Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 531

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

530 TUỆ SỸ chí thành, không hề hai lưỡi, thường tự kính cẩn, dẹp bỏ ngủ nghỉ, không mang lòng tà xiểm, miệng không nói dối, không dự đốn cát hung cho người, không tự mình xưng thuyết, đem sở đắc của người này tỏ cho người khác để cầu thêm lợi từ người khác, tọa thiền tu trí, biện tài vô ngại, chuyên niệm không loạn, tinh cần không biếng nhác. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai [78b] có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên. 14. Tha giải thốt trí “Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là giải thốt trí.43 Nói là giải thốt trí, đó là, Thế Tôn do nhân duyên của người khác mà nội tâm tư duy rằng: Người này là Tu-đà-hồn; người này là Tư-đà-hàm; người này là A-na-hàm, người này là A-la-hán. Pháp ấy vô thượng, không gì có thể vượt qua; trí tuệ vô dư, thần thông vô dư; các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh ngang Như Lai, huống hồ vượt lên trên. 15. Túc mạng trí “Pháp mà Như Lai thuyết lại còn có trên nữa, đó là tự thức túc mạng trí chứng. 44 Các Sa-môn, Bà-la-môn, 43 D 28 (iii 108): parapuggalavimuttiñāṇa, tha nhân giải thốt trí, nhận thức về sự giải thốt của người khác; ấn chứng sự giải thốt cho người khác. 44 Tự thức túc mạng trí chứng 宿. D 28 (iii 110): pubbenivāsānussatiñāṇa, túc trú tùy niệm trí, nhận thức nhớ lại các đời sống trước.