Văn bản trích xuất theo trang
Trang 421
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
420
TUỆ SỸ
hạn ấy là chúng sinh. Sau khi biết rõ thấu suốt như
vậy, Tỳ-kheo với tâm giải thốt vô lậu không còn biết,
không còn thấy tri kiến như vậy.”27
2. Y cứ sắc
Phật nói với A-nan:
“Với những người chủ trương có ngã, cho đến giới
hạn nào thì được xác định? ”28
“Với những người chủ trương có ngã, hoặc nói: ‘Hữu
hạn, sắc là ngã’;29 hoặc nói: ‘Vô hạn, sắc là ngã’; 30
hoặc nói: ‘Hữu hạn, vô sắc là ngã’;31 hoặc nói: ‘Vô
hạn, vô sắc là ngã.’32 “A-nan, những người nói hữu
hạn, sắc là ngã, xác định rằng ‘Hữu hạn, sắc là ngã:
sở kiến của ta là đúng, ngồi ra đều sai.’ Những người
nói vô hạn, sắc là ngã, xác định rằng ‘Vô hạn, sắc là
ngã: sở kiến của ta là đúng, ngồi ra đều sai.’ Những
người nói hữu hạn, vô sắc là ngã, xác định rằng ‘Hữu
hạn, vô sắc là ngã: sở kiến của ta là đúng, ngồi ra đều
sai.’ Những người nói vô hạn, vô sắc là ngã, xác định
rằng ‘Vô hạn, vô sắc là ngã: sở kiến của ta là đúng,
ngồi ra đều sai.’”
27 Bản Pāli: với Tỳ kheo vô lậu tâm giải thốt như vậy, ai nói vị ấy
không thấy, không biết quan điểm như vậy; người ấy sai lầm.
28 Pāli: attapaññatti, khái niệm về tự ngã.
29 Hán: thiểu sắc thị ngã 少色是我. D15: rūpī me paritto attā, “ngã
của tôi có sắc, có hạn lượng.”
30 Hán: đa sắc thị ngã 多色是我. D15: rūpī me ananto attā, “ngã
của tôi có sắc, vô biên.”
31 Hán: thiểu vô sắc thị ngã 少無色是我. D15: arūpī me paritto
attā, “ngã của tôi là vô sắc, có hạn lượng.”
32 Hán: đa vô sắc thị ngã 多無色是我. Pl.: arūpī me ananto attā,
“ngã của tôi là vô sắc, vô biên.”