Văn bản trích xuất theo trang
Trang 422
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
421
TRƯỜNG A HÀM – KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG
Phật nói với A-nan:
“Có bảy trú xứ của thức,33 và hai nhập xứ,34 mà các Sa-
môn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗ này là nơi an ổn, nơi cứu
vớt, nơi hộ trì; là cái nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là
nơi qui tựa, là không hư dối, là không phiền não.’
III. CÁC TRÚ XỨ VÀ GIẢI THỐT
1. Bảy thức trụ
“Những gì là bảy? Hoặc có hạng chúng sinh, với
nhiều thân khác nhau và nhiều tưởng khác nhau, tức
(một phần) chư Thiên và lồi Người. Đó là trú xứ thứ
nhất của thức, mà các Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Chỗ
này là nơi an ổn, nơi cứu vớt, nơi hộ trì; [62b] là cái
nhà, là ngọn đèn, là ánh sáng, là nơi qui tựa, là không
hư dối, là không phiền não.’ Này A-nan, nếu Tỳ-kheo
biết trú xứ thứ nhất của thức, biết sự tập khởi, biết sự
diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại, biết sự xuất ly,
biết một cách như thật; A-nan, Tỳ-kheo ấy nói: ‘Cái
ấy không phải là ta. Ta không phải là cái ấy’’ 35 với tri
kiến như thật.
“Hoặc có hạng chúng sinh với thân đồng nhất nhưng
với nhiều tưởng khác nhau, như trời Phạm chúng (thời
kiếp sơ mới sinh). Hoặc có hạng chúng sinh có thân
33 Thất thức trú 七 識 住; Pl.: satta viññāṇaṭṭhitiyo, bảy trạng thái
tồn tại của thức. Tham chiếu các kinh số 9 “Chúng tập”, số 10
“Thập thượng”, số 11 “Tăng nhất”, mục 7 pháp.
34 Nhị nhập xứ 二入處; Pl.: dve āyatanāni.
35 Hán: bĩ phi ngã, ngã phi bĩ 彼 非 我 我 非 彼. Tham chiếu Pl.: (…)
kallaṃ nu tena tadabhinandituṃ ti? Có thích hợp chăng nếu vị ấy
thích thú với trú xứ này?