Văn bản trích xuất theo trang
Trang 407
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
406
TUỆ SỸ
thay! Hy hữu thay! Ánh sáng của mười hai duyên
khởi mà Đức Thế Tôn đã dạy thật là sâu xa, khó hiểu!
Nhưng theo ý ta quán xét thì như thấy ở trước mắt, có
gì mà gọi là sâu xa?’”
Bấy giờ, Phật bảo A-nan:
“Thôi, thôi, A-nan! Chớ nói như vậy. Ánh sáng của
mười hai duyên khởi rất sâu xa, khó hiểu. Mười hai
duyên khởi này khó thấy, khó biết. Chư Thiên, Ma,
Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, những người chưa thấy
duyên, nếu muốn tư lương, quán sát, phân biệt nghĩa
lý của nó, đều bị hoang mê không thể thấy nổi.
2. Quan hệ các chi duyên khởi
“Này A-nan, nay Ta nói với ngươi: Già-chết có duyên.
Nếu có người hỏi: Cái gì là duyên của già-chết? Hãy
trả lời người ấy: Sinh là duyên của già-chết. Nếu lại
hỏi: Cái gì là duyên của sinh. Hãy trả lời: Hữu là
duyên của sinh. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của hữu?
Hãy trả lời: Thủ là duyên của hữu. Nếu lại hỏi: Cái
gì là duyên của thủ? Hãy trả lời: Ái là duyên của thủ.
Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của ái? Hãy trả lời: Thọ
là duyên của ái. 3 Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của thọ?
Hãy trả lời: Xúc là duyên của thọ. Nếu lại hỏi: Cái gì
là duyên của xúc? Hãy trả lời: Sáu xứ là duyên của
xúc. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của sáu xứ? Hãy trả
lời: Danh sắc là duyên của sáu xứ. Nếu lại hỏi: Cái
gì là duyên của danh sắc? Hãy trả lời: Thức là duyên
của danh sắc. Nếu lại hỏi: Cái gì là duyên của thức?
3 T 14: lần ngược từ lão tử lên đến ái thì trở lui: ái cầu 愛求 nhân
duyên thọ 受 (thủ); thọ (thủ) nhân duyên hữu 有; hữu nhân duyên
sinh 生; sinh nhân duyên lão tử 老死.