Văn bản trích xuất theo trang
Trang 406
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
405
13. KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG TIỆN
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Câu-lưu-sa, trú xứ Kiếp-ma-
sa, 1 [60b] cùng với đại chúng Tỳ-kheo một ngàn hai
trăm năm mươi vị.
I. DUYÊN KHỞI
1. Tư duy của A-nan
Bấy giờ, A-nan ở tại chỗ thanh vắng suy nghĩ: “Kì
diệu thay! Hy hữu thay! Ánh sáng của mười hai duyên
khởi2 mà đức Thế Tôn đã dạy thật là sâu xa, khó hiểu!
Nhưng theo ý ta quán xét thì như thấy ở trước mắt, có
gì mà gọi là sâu xa?”
Rồi thì, A-nan liền rời khỏi tịnh thất đi đến chỗ Phật;
đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi sang một bên, bạch Thế
Tôn rằng:
“Vừa rồi, ở nơi tịnh thất, con tự thầm nghĩ: ‘Kì diệu
* 佛說長阿含第二分大緣方便經第九
1 Câu-lưu-sa quốc Kiếp-ma-sa trú xứ 拘流沙國劫摩沙住處; Pl.:
Kurūsu viharati Kammāsadhammaṃ nāma Kurūnaṃ nigamo,
trú giữa những người Kuru, tại một ấp của người Kuru gọi là
Kammāsadhamma. T 14: Câu-loại quốc, Pháp trị xứ 拘類國法
治處.
2 Thập nhị nhân duyên chi quang minh thậm thâm nan giải 十二
因緣之光明甚深難解; D15 (ii 55): yāva gambīro cāyaṃ bhante,
paṭiccasamuppādo gambīrāvabhāso ca, lý duyên khởi thật sâu
xa, sự biểu hiện (ánh sáng) cũng rất sâu xa. T 26(97): Thử duyên
khởi thậm kì; cực thậm thâm; minh diệc thậm thâm. 此緣起甚奇
極甚深明亦甚深: duyên khởi này thật kì diệu, rất sâu thẳm; ánh
sáng của nó cũng rất sâu thẳm.