Văn bản trích xuất theo trang
Trang 492
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
491
17. KINH THANH TỊNH
[72c13] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Ca-duy-la-vệ,1 trong khu
rừng của Ưu-bà-tắc Miên-kì, 2 cùng với đại chúng Tỳ-
kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị.
I. TRANH CHẤP NỘI BỘ NI-KIỀN TỬ
Bấy giờ, có sa-di Châu-na, 3 ở tại nước Ba-ba,4 sau an
cư mùa hạ, cầm y bát, đi lần đến nước Ca-duy-la-vệ,
trong vườn Miên-kì; đến chỗ A-nan, cúi đầu lễ dưới
chân, rồi đứng sang một bên, bạch A-nan rằng:
“Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu,
mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh
chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân
biệt trên dưới; tìm tòi khuyết điểm của nhau, ganh
đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này;
ngươi không thể biết điều này. Hành động của ta chân
chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra
sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không
có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những
* 第二分[19]清淨經第十三
1 Ca-duy-la-vệ 迦維羅衛 (Ca-Tì-la-vệ). Pl.: Kapilavatthu.
2 Miên-kì ưu-bà-tắc lâm trung 綿 祇 優 婆 塞 林 中. Phiên âm Miên-
kì không tìm thấy Pāli. tương đương chính xác. D 29: Phật ở giữa
người họ Thích (Sakkesu), trong ngôi nhà lầu trong khu vườn
xồi của một người họ Thích có tên là Vadhaññā.
3 Châu-na 周那. Pl.: Cunda Samaṇuddesa.
4 Ba-ba 波波. Pl.: Pāvā, một thị trấn gần Vương xá (Pl.: Rājagaha),
thủ phủ của bộ tộc Malla.