Văn bản trích xuất theo trang
Trang 705
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
704
TUỆ SỸ
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, tuy nói đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới
cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc
nhất, nhưng pháp Sa-môn, Bà-la-môn thật quá khó, quá
khó! Sa-môn cũng khó biết, Bà-la-môn cũng khó biết.”31
c. Đáng tán thán
Phật nói:
“Ưu-bà-tắc32 cũng có thể tu hành được pháp ấy, nói
rằng: ‘Tôi, kể từ hôm nay, có thể khỏa thân cởi bỏ y
phục,… (cho đến), bằng vô số phương tiện gieo khổ
cho thân này.’ Không thể do hành vi này mà được gọi
là Sa-môn, Bà-la-môn. Nếu chỉ do hành này mà có thể
được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, thì không thể nói pháp
Sa-môn là quá khó, pháp Bà-la-môn là quá khó. Nhưng
không vì hành ấy mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn,
cho nên nói rằng Sa-môn rất khó, Bà-la-môn rất khó.”
Phật lại nói với Ca-diệp:
“Xưa, một thời, Ta ở tại La-duyệt-kì, trong hang Thất
diệp trên Cao sơn, 33 đã từng giảng về khổ hạnh thanh
tịnh cho Phạm-chí Ni-câu-đà.34 Khi ấy Phạm-chí sinh
31 D 8: dujjāno samaṇo, dujjāno brāhmaṇo: khó biết Sa-môn, khó
biết Bà-la-môn.
32 D 8: sakkā abhavissa ñātuṃ gahapatinā, … antamaso
kimbhadāsiyāpi, gia chủ, cho đến nữ tỳ đội nước cũng có thể
biết được.
33 Cao sơn Thất diệp quật 高山七葉窟, hang núi (Pl.: Sattapaṇṇi-
guhā), trên một ngọn núi phía Nam thành Vương xá. D 8: Phật
ở tại Gijjhakūṭta pabbata, núi Linh Thứu, phía Đông-Bắc thành
Vương xá.
34 Phạm-chí Ni-câu-đà 尼 俱 陀; Pl.: tapasa-brahmacārī Nigrodha, một