Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 521

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

520 TUỆ SỸ tin Như Lai là đấng Chí Chân, Đẳng Chính Giác; tin Pháp của Như Lai được khéo phân biệt; tin Chúng của Như Lai thành tựu sự diệt khổ. Trong các pháp thiện xảo,10 đây là tối thượng. Thế Tôn có trí tuệ vô dư, thần thông vô dư.11 Các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh bằng Như Lai, huống hồ muốn vượt lên trên. 2. Pháp chế định “Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp cao hơn nữa; đó là các chế pháp. Các chế pháp đó là, bốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn thần túc, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác chi, [77a] tám chi Hiền Thánh đạo. Đó là các chế pháp vô thượng, trí tuệ vô dư, 13 thần thông vô dư. Các Sa-môn, Bà-la-môn trong đời không ai có thể sánh bằng Như Lai, huống hồ muốn vượt lên trên. 3. Phân biệt xứ “Pháp mà Thế Tôn đã dạy, lại có pháp cao hơn nữa, đó 10 Thiện pháp, chỉ giáo pháp được thiết lập hồn hảo. Pl.: etadānuttariyam bhante kusalesu dhammesu. 11 Trí tuệ vô dư , Pl.: asesam abhijānāti, (Ngài) hiểu biết một cách tồn diện, không còn sót điều gì. Bản Pl. không có “thần thông vô dư.” Pl.: abhiññā, dịch thần thông hay thắng tri, cùng gốc với động từ abhijānāti. 12 Chế pháp , pháp được chế định, thiết định; tức thiện pháp nói trên. Pl.: dhamma-paññatti. D 29: tatrime kusalā dhammā seyyathidaṃ, cattaro satipaṭṭhānā, đây là các pháp thiện xảo, tức là bốn niệm xứ… 13 Văn dịch thiếu chủ từ. Nên hiểu: các pháp ấy đã được Thế Tôn hiểu biết một cách tồn diện.