Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 117

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

116 TUỆ SỸ 13. Thế Tôn xả thọ hành Lúc ấy, Ma Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, nhất định sẽ diệt độ, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên biến mất. Ma đi chưa bao lâu, Phật ở nơi tháp Giá-bà-la, bằng định ý tam-muội, xả mạng, an trú thọ. 100 Ngay lúc đó, đại địa chấn động. Nhân dân cả nước thảy đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt đến vô cùng, nơi chỗ tối tăm cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Thế Tôn nói kệ tụng rằng: Trong hai hành hữu vô, Ta nay xả hữu vi. Nội tâm chuyên chính định, Như chim ra khỏi trứng.101 100 Hán: xả mạng trú thọ 捨命住壽: xả mạng căn, giữ lại thọ hành. Bản hán có thể nhầm. Nên hiểu, xả thọ hành, và lưu mạng căn. Pāli, D 16 (ii. 98) … jīvitaṃ adhiṭṭhāya (sau khi duy trì mạng căn) …(ibid. tr. 106) āyusaṅkhāraṃ ossajji (Thế Tôn xả thọ hành). Tham chiếu, Koṣabhāṣya, ii. k 10, tr. 44: sutra uktam, bhagavān jīvitasaṃskārān adhiṣṭhāyāyuḥsaṃskārān utsṛṣṭavān, trong Kinh có nói, Thế Tôn sau khi lưu lại các mạng hành rồi xả các thọ hành. Hán dịch, Huyền Trang (Câu-xá 3, tr. 15c): Kinh thuyết, Thế Tôn lưu đa mạng hành, xả đa thọ hành 經說 世尊 留多命行捨多壽行. T 5: phóng khí thọ mạng 放棄壽命. T 6: bất trú tánh mạng, khí dư thọ hành 不住性命棄餘壽行. D 16 (ii 106) sato sampajāno āyusaṃkhāraṃ ossaji, chánh niệm, chánh trí, xả bỏ thọ hành. 101 D16 (ii 107): tulamatulañca sambhavaṃ, bhavasaṅkhāramavassaji muni; ajjhattarato samāhito, abhindi kavacamivattasambhavan” ti, “Đức Muni đã xả bỏ nhân tố của tồn tại, vốn là sự sinh khởi hữu hạn và vô hạn; nội tâm hoan hỷ, chánh định, như hủy bỏ áo giáp đã sinh ”