Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 743

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

742 TUỆ SỸ rằng: ‘Đại đức, như người cỡi voi, ngựa xe, luyện tập binh pháp, cho đến, các loại mưu sinh khác nhau, đều có quả báo trong hiện tại. Nay đây chúng hội này hiện tại tu đạo, có được quả báo trong hiện tại không?’ Kia trả lời tôi rằng: ‘Không có lực, không có tinh tấn, con người không sức mạnh, không có tinh cần. 39 Không nhân, không duyên cho sự nhiễm trước của chúng sinh. Không nhân, không duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Hết thảy chúng sinh, những lồi có mạng, thảy đều không sức mạnh, không được tự tại, không có cái gì được gọi là ốn là thù,40 ở trong sáu sinh loại41 mà thọ các khổ hay lạc.’42 39 Nguyên Hán: vô phương tiện. Những từ phương tiện trong bản hán này phần lớn có nghĩa tinh cần. Pl.: natthipurisaparakkamo: không có sự nỗ lực của con người. 40 Hán: vô hữu oan thù định tại số trung 無有冤讎定在數中. Pl. (?): niyatisaṅgatibhāvapariṇatā: chúng bị biến chuyển bởi hữu (tồn tại), bởi tụ hội (chủng tộc), bởi quyết định (định mệnh). 41 Hán: lục sinh 六生; Pl.: chass’ abhijāti, chỉ sáu giống người, phân biệt theo màu da: đen, xanh, đỏ, vàng, trắng, thuần trắng. 42 Trong bản Pl., D 2 (i. 50), đây là phần đầu thuyết luân hồi tịnh hóa (saṃsārasuddhi) của Makkhali Gosāla: n’ atthi hetu n’ atthi paccayo sattānaṃ saṃkilesāya, ahetu apaccayā sattā saṃkilissanti. n’ atthi hetu n’ atthi paccayo sattānaṃ visuddhiyā, ahetuapaccayā sattā visujjhanti. n ‘atthi attakāre n’ atthi parakāre, n’ atthi puris-kāre; n’ atthi balaṃ n’ atthi viriyaṃ. n’ atthi purisathāmo n’atthi purisaparakkamo. sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā aviriyā niyatisaṅgatibhāvapari ṇatā chass’ evābhijāisu sukhadukkhaṃ paṭisaṃvedenti: “Không có nhân, không có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sinh. Chúng sinh bị nhiễm ô không do nhân duyên gì. Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Chúng sinh được thanh tịnh không do bởi nhân duyên gì. Không có cái tự tác, không có cái tha tác, không có cái nhân tác. Không có lực, không có tinh tấn, không có nghị lực của con người,