Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 370

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

369 TRƯỜNG A HÀM – KINH THẬP THƯỢNG không biếng nhác, nhớ dai,50 có trí.51 “Thế nào là bảy nan giải pháp? Đó là bảy thiện sĩ pháp:52 ở đây, Tỳ-kheo biết nghĩa, biết pháp, biết thời, biết đủ, biết tiết chế, biết tập chúng, biết phân biệt người.53 “Thế nào là bảy sinh pháp? Đó là bảy tưởng: tưởng về sự bất tịnh của thân, tưởng về sự bất tịnh của thức ăn, tưởng về sự hết thảy thế gian không đáng ưa thích, tưởng về sự chết, tưởng về vô thường, tưởng vô thường là khổ, tưởng khổ là vô ngã. “Thế nào là bảy tri pháp? Đó là bảy sự tinh cần: 54 tinh cần nơi giới, tinh cần diệt tham dục, tinh cần phá tà kiến, tinh cần nơi đa văn, tinh cần nơi tinh tấn, tinh cần nơi chính niệm, tinh cần nơi thiền định. “Thế nào là bảy chứng pháp? Đó là bảy năng lực diệt tận lậu hoặc: 1. Ở đây, Tỳ-kheo lậu tận biết như thật, thấy như thật hết thảy sự tập khởi của khổ, sự diệt trừ, vị ngọt, sự tai hại, và sự xuất ly.56 2. Quán sát dục như hầm lửa, và cũng như đao kiếm, biết dục, thấy dục, không tham nơi dục, tâm không trụ nơi dục. 3. Tỳ- kheo lậu tận, quán sát thuận và nghịch, sau khi đã như 50 Cường ký . Pl.: upaṭṭhitassati, niệm hiện tiền (chánh niệm) 51 Pl.: paññavā, cụ tuệ. 52 Nguyên Hán: chính thiện pháp. D 34: satta sappurisadhammā, bảy thượng nhân pháp (thiện sỹ pháp). 53 Cf. T 26(1). 54 D 34: satta niddasavatthūni, bảy thù diệu sự.  Thất lậu tận lực . D 34: satta khiṇāsava-balāni, bảy lậu tận lực. 56 Cf. D 34: (…) aniccato sabbe saṅkhārāyathābhūtaṃ sammappaññāya (…), bằng chánh trí, như thật quán hết thảy các hành vô thường.