Văn bản trích xuất theo trang
Trang 230
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
229
TRƯỜNG A HÀM – KINH XÀ-NI-SA
Nhưng, những người nước Ma-kiệt đều là người dòng
họ vua,6 được vua tin dùng; 7 có người mạng chung mà
Phật không ký biệt.”
Rồi thì A-nan rời tịnh thất đi đến chỗ Thế Tôn, đầu
mặt lễ Thế Tôn, rồi ngồi sang một bên, và bạch Phật
rằng:
“Vừa rồi ở tịnh thất con thầm nghĩ rằng: ‘Kì diệu thay,
hy hữu thay, Phật ký biệt cho nhiều người, làm lợi ích
cho nhiều người. Trong mười sáu nước lớn có người
mạng chung Phật đều ký biệt cho. Duy người nước Ma-
kiệt, những người được vua tin dùng; có người mạng
chung, [34c] độc nhất không được ký biệt.’ Cúi mong
Thế Tôn hãy ký biệt cho những người đó! Cúi mong
Thế Tôn hãy ký biệt cho những người đó. Vì lợi ích cho
tất cả; vì sự an lạc của Chư Thiên và lồi người.
“Lại nữa, Phật đắc đạo ở nước Ma-kiệt. Nhưng riêng
người nước ấy khi mạng chung không được ký biệt.
Cúi mong Thế Tôn hãy ký biệt cho những người ấy!
Cúi mong Thế Tôn hãy ký biệt cho những người ấy.
“Lại nữa, vua Bình-sa, 8 vua nước Ma-kiệt, là ưu-bà-
tắc dốc lòng thành tín nơi Phật, đã nhiều lần thiết lễ
cúng dường, sau đó mạng chung. Do vua ấy mà có
nhiều người tin hiểu, cúng dường Tam Bảo. Nhưng
nay Như Lai không thọ ký cho. Cúi mong Thế Tôn
6 Hán: vương chủng 王種. Có lẽ tương đương Pāli: rattaññu: (Phật tử)
kỳ cựu; nhưng bản Hán đọc là rājañña: vương tộc.
7 Vương sở thân nhiệm 王 所 親 任. Có lẽ tương đương Pāli: paricārika,
người phục vụ, nô tì. Sớ giải Pāli: đây chỉ những người phụng sự Tam
bảo (buddhadhammasaṅghānaṃ paricārake).
8 Bình-sa 缾沙. T 9: Tần-bà-sa-la 頻婆娑羅. Pl.: Bimbisāra.