Văn bản trích xuất theo trang
Trang 584
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
583
TRƯỜNG A HÀM – KINH A-MA-TRÚ
khác, nhưng rắn từ hộp mà ra.’ Lại như một người lấy
áo ra khỏi giỏ tre, nghĩ rằng: ‘Giỏ tre khác, áo khác;
nhưng áo được lấy ra từ giỏ.’ Ma-nạp, Tỳ-kheo cũng
vậy. Đây là thắng pháp thứ nhất được chứng đắc. 67
Vì sao? Ấy do tinh tấn, niệm không thác loạn, ưa chỗ
nhàn tĩnh mà được vậy.
“Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cáu bẩn,
nhu nhuyến, được khéo huấn luyện, an trú trạng thái
bất động, từ sắc thân bốn đại của mình mà khởi tâm,
hóa thành thân khác,68 đủ cả tay chân và các căn, nghĩ
rằng: ‘Thân này do bốn đại hiệp thành. Thân kia từ
thân này hóa ra. Thân này với thân kia khác nhau.
Tâm này trú trong thân này, y thân này mà an trú,
[86a] rồi đi đến trong thân biến hóa kia. Cũng như
lưu ly, ma ni, được lau chùi sáng lống, trong sạch
không dơ; hoặc được xâu bằng chỉ xanh, chỉ vàng, chỉ
đỏ; người có mắt đặt chúng trong lòng tay mà nhìn,
biết rằng ngọc và dây xâu khác nhau. Nhưng dây dựa
ngọc, từ hạt này đến hạt khác. Ma-nạp, Tỳ-kheo quán
thấy tâm nương thân này mà an trú, rồi đi đến thân
kia cũng như vậy. Đó là Tỳ-kheo chứng đắc thắng
pháp thứ hai.69 Vì sao? Ấy do tinh cần, niệm không
66 Hán: khiệp trung xuất xà 篋中出蛇. Cf. D.i. 77.: ahiṃ karaṇḍa uddhar-
eyya, con rắn lột vỏ. (karaṇḍa: cái giỏ; hoặc xác/vỏ rắn).
67 Trong Pāli, D 3 ibid., đây là thắng pháp thứ hai: thần thông trí về
ý thành thân (manomaya-iddhiñāṇa), khả năng biến hóa thành một
thân khác hồn tồn do ý tạo ra.
68 Cf. D 3 (i 76): (…) ñāṇadasanāya cittaṃ abhinīharati, “hướng tâm
đến tri kiến.” Tức hướng tâm đến chánh quán về bốn đại, chứ không
phải biến hóa như trong bản Hán. Xem thêm cht. 67 tiếp theo.
69 Pl., D 3 ibid.: thắng pháp thứ nhất: chánh quán trí (vipassanāñāṇa)
về bốn đại.