Khảo cứu & Đối chiếu Tam tạng

Thư viện Khảo chứng T26n0026

Đối chiếu học thuật

Kinh Trung A Hàm · Khảo chứng đa ngữ Hán – Pāḷi – Sanskrit

Góc nhìn:
48 đoạn kinh gióng hàng
Hiển thị đoạn 1 – 10 / 48 đoạn (Trang 1 / 5)
Xem:
…
p0506b13
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506b13
一時,佛遊王舍城,在竹林加蘭哆 園。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

Một thời, Đức Phật du hoá ở thành Vương Xá, tại khu vườn Trúc Lâm Ca-lan-đà.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506b14
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506b14
爾時,世尊告諸比丘:「昔轉輪王欲試珠 寶時,便集四種軍,象軍、馬軍、車軍、步軍,集 四種軍已,於夜闇中竪立高幢,安珠置上, 出至園觀,珠之光耀,照四種軍,明之所及, 方半由延。彼時,有一梵志而作是念:『我寧可 往見轉輪王及四種軍,觀琉璃珠。』爾時,梵志 復作是念:『且置見轉輪王及四種軍、觀琉 璃珠,我寧可往至彼林間。』
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỷ-khưu: "Xưa kia, khi vua Chuyển luân muốn thử ngọc báu, bèn tập hợp bốn binh chủng: tượng binh, mã binh, xa binh và bộ binh. Sau khi tập hợp bốn binh chủng rồi, ông dựng một lá cờ cao trong đêm tối, đặt viên ngọc báu lên trên, rồi đi ra vườn cảnh. Ánh sáng chiếu diệu của viên ngọc soi tỏa bốn binh chủng, tầm sáng chiếu xa đến nửa do-tuần. Bấy giờ, có một Phạm chí suy nghĩ rằng: 'Ta nên đến xem vua Chuyển luân cùng bốn binh chủng, và ngắm nhìn viên ngọc lưu ly.' Khi ấy, Phạm chí lại suy nghĩ: 'Thôi hãy gác lại việc xem vua Chuyển luân cùng bốn binh chủng và ngắm ngọc lưu ly, ta thà nên đi vào trong khu rừng kia.'

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506b21
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506b21
「於是,梵志便往 詣林,到已入中,至一樹下,坐已未久,有一 獺獸來,梵志見已而問之曰:『善來,獺獸!汝 從何來,為欲何去?』答曰:『梵志!此池本時清 泉盈溢,饒藕多華,魚龜滿中,我昔所依,而 今枯熇。梵志當知!我欲捨去,入彼大河,我 今欲去,唯畏於人。』時,彼獺獸與此梵志共 論是已,便捨而去,梵志故坐。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Thế rồi, Phạm chí đi đến khu rừng, vào trong rừng rồi đến ngồi dưới một gốc cây. Ngồi chưa bao lâu, có một con rái cá đi đến. Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, rái cá! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Ao này trước đây nước suối trong tràn đầy, nhiều ngó nhiều hoa, rùa cá đầy trong đó, xưa là nơi tôi nương tựa, mà nay đã khô kiệt. Phạm chí nên biết! Tôi muốn bỏ đi, đi vào sông lớn kia; nay tôi muốn đi, chỉ sợ loài người.' Bấy giờ, con rái cá ấy cùng Phạm chí đàm luận việc ấy xong liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506b28
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506b28
「復有究暮鳥 來,梵志見已而問之曰:『善來,究暮鳥!汝從 何來,為欲何去?』答曰:『梵志!此池本時清泉 盈溢,饒藕多華,魚龜滿中,我昔所依,而今枯 熇。梵志當知!我欲捨去,依彼死牛聚處栖 宿,或依死驢,或依死人聚處栖宿,我今欲 去,唯畏於人。』彼究暮鳥與此梵志共論是 已,便捨而去,梵志故坐。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Lại có con chim cứu-mộ bay đến, Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, chim cứu-mộ! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Ao này trước đây nước suối trong tràn đầy, nhiều ngó nhiều hoa, rùa cá đầy trong đó, xưa là nơi tôi nương tựa, mà nay đã khô kiệt. Phạm chí nên biết! Nay tôi muốn bỏ đi, nương nơi gò xác bò chết mà đậu nghỉ, hoặc nương nơi xác lừa chết, hoặc nương nơi gò xác người chết mà đậu nghỉ; nay tôi muốn đi, chỉ sợ loài người.' Chim cứu-mộ ấy cùng Phạm chí đàm luận việc ấy xong liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506c06
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506c06
「復有鷲鳥來,梵志 見已而問之曰:『善來,鷲鳥!汝從何來,為欲 何去?』答曰:『梵志!我從大墓復至大墓殺害 而來,我今欲食死象之肉,死馬、死牛、死人之 肉,我今欲去,唯畏於人。』時,彼鷲鳥與此梵 志共論是已,便捨而去,梵志故坐。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Lại có con chim thứu bay đến, Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, chim thứu! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Tôi từ gò mả lớn này lại đến gò mả lớn khác, do sự giết hại mà đến; nay tôi muốn ăn thịt voi chết, thịt ngựa, thịt bò, thịt người chết; nay tôi muốn đi, chỉ sợ loài người.' Bấy giờ, chim thứu ấy cùng Phạm chí đàm luận việc ấy xong liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506c11
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506c11
「復有食 吐鳥來,梵志見已而問之曰:『善來,食吐鳥!汝 從何來,為欲何去?』答曰:『梵志!汝見向者鷲 鳥去耶?我食彼吐,我今欲去,唯畏於人。』彼 食吐鳥與此梵志共論是已,便捨而去,梵 志故坐。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Lại có con chim thực-thổ bay đến, Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, chim thực-thổ! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Ông có thấy con chim thứu vừa rồi đi chưa? Tôi ăn thức mửa của nó; nay tôi muốn đi, chỉ sợ loài người.' Con chim thực-thổ ấy cùng Phạm chí đàm luận việc ấy xong liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506c16
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506c16
「復有犲獸來,梵志見已而問之曰: 『善來,犲獸!汝從何來,為欲何去?』答曰:『梵 志!我從深㵎至深㵎,從榛莽至榛莽,從 僻靜至僻靜處來,我今欲食死象肉,死馬、 死牛、死人之肉,我今欲去,唯畏於人。』時,彼犲 獸與此梵志共論是已,便捨而去,梵志故 坐。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Lại có con sói gấm đi đến, Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, sói gấm! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Tôi đi từ khe sâu này đến khe sâu khác, từ bụi rậm này đến bụi rậm khác, từ nơi hẻo lánh này đến nơi hẻo lánh khác mà đến; nay tôi muốn ăn thịt voi chết, thịt ngựa, thịt bò, thịt người chết; nay tôi muốn đi, chỉ sợ loài người.' Bấy giờ, con sói gấm ấy cùng Phạm chí đàm luận việc ấy xong liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506c22
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506c22
「復有烏鳥來,梵志見已而問之曰:『善來, 烏鳥!汝從何來,為欲何去?』答曰:『梵志!汝強 額癡狂,何為問我:「汝從何來,為欲何去?」』彼 時,烏鳥面訶梵志已,便捨而去,梵志故坐。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Lại có con chim quạ bay đến, Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, chim quạ! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Ông trán cứng ngu ngốc mê cuồng, cớ sao lại hỏi tôi: "Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?"' Khi ấy, con chim quạ mắng nhiếc thẳng mặt Phạm chí xong liền bỏ đi. Phạm chí vẫn ngồi như cũ.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0506c26
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0506c26
「復有狌狌獸來,梵志見已而問之曰:『善來, 狌狌獸!汝從何來,為欲何去?』答曰:『梵志!我 從園至園,從觀至觀,從林至林,飲清泉水, 食好果來,我今欲去,不畏於人。』彼狌狌 獸與此梵志共論是已,便捨而去。」
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

"Lại có con tinh-tinh đi đến, Phạm chí thấy rồi hỏi rằng: 'Lành thay, tinh-tinh! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Tôi đi từ vườn này đến vườn khác, từ đài xem này đến đài xem khác, từ rừng này đến rừng khác, uống nước suối trong, ăn trái cây ngon mà đến; nay tôi muốn đi, không sợ loài người.' Con tinh-tinh ấy cùng Phạm chí đàm luận việc ấy xong liền bỏ đi."

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

p0507a01
✎ Bản duyệt nháp
1. Hán văn CBETA (Taishō)p0507a01
佛告諸 比丘:「吾說此喻,欲令解義,汝等當知此說 有義。時,彼獺獸與此梵志共論是已,便捨 而去。吾說此喻有何義耶?若有比丘依 村邑行,比丘平旦著衣持鉢,入村乞食,不 護於身,不守諸根,不立正念,而彼說法, 或佛所說,或聲聞所說,因此得利衣被、飲食、 床褥、湯藥、諸生活具,彼得利已,染著觸猗,不 見災患,不能捨離,隨意而用。彼比丘行惡 戒,成就惡法,最在其邊,生弊腐敗,非梵行 稱梵行,非沙門稱沙門,猶如梵志見獺獸 已,而問之曰:『善來,獺獸!汝從何來,為欲何 去?』答曰:『梵志!此池本時清泉盈溢,饒藕多 華,魚龜滿中,我昔所依,而今枯熇。梵志當 知!我欲捨去,入彼大河,我今欲去,唯畏於 人。』吾說比丘亦復如是,入惡不善穢汙法 中,為當來有本煩熱苦報、生老病死因,是以 比丘莫行如獺,莫依非法以自存命;當 淨身行,淨口、意行,住無事中,著糞掃衣,常 行乞食,次第乞食,少欲知足,樂住遠離而 習精勤,立正念、正智、正定、正慧,常當遠離, 應學如是。
2. Việt dịch từ Hán vănHT. Thích Tuệ Sỹ

Đức Phật bảo các Tỷ-khưu: "Ta nói thí dụ này là muốn cho hiểu rõ nghĩa lý, các ông nên biết lời nói này mang ý nghĩa thâm sâu. Khi con rái cá ấy cùng Phạm chí đàm luận xong liền bỏ đi. Ta nói thí dụ này có ý nghĩa gì? Nếu có Tỷ-khưu nương nơi làng xóm mà trú hành, sáng sớm mặc y ôm bát vào làng xin ăn, không phòng hộ thân, không giữ gìn các căn, không nhiếp lập chánh niệm, rồi vị ấy thuyết pháp, hoặc điều Phật nói, hoặc điều Thanh văn nói, nhờ đó mà thu được lợi dưỡng y phục, ăn uống, giường nệm, thuốc men cùng các đồ dùng nuôi sống. Sau khi được lợi dưỡng rồi, vị ấy nhiễm dính tựa nương, không thấy hiểm họa, không thể xả ly, tùy ý sử dụng. Tỷ-khưu ấy hành trì ác giới, thành tựu pháp ác, đứng ở nơi tận cùng bất thiện, sinh ra tệ hoại hủ bại, không phải phạm hạnh mà xưng phạm hạnh, không phải sa-môn mà xưng sa-môn. Giống như Phạm chí thấy con rái cá rồi hỏi rằng: 'Lành thay, rái cá! Ngươi từ đâu đến, muốn đi về đâu?' Đáp rằng: 'Thưa Phạm chí! Ao này trước đây nước suối trong tràn đầy, nhiều ngó nhiều hoa, rùa cá đầy trong đó, xưa là nơi tôi nương tựa, mà nay đã khô kiệt. Phạm chí nên biết! Tôi muốn bỏ đi, đi vào sông lớn kia; nay tôi muốn đi, chỉ sợ loài người.' Ta nói Tỷ-khưu cũng lại như vậy, đi vào trong các pháp ác, bất thiện, uế ô, làm cội gốc cho quả báo khổ đau phiền nhiệt ở hữu tương lai, làm nguyên nhân cho sinh, lão, bệnh, tử. Vì thế, Tỷ-khưu chớ hành động như rái cá, chớ nương vào phi pháp để tự nuôi sống mình; phải làm sạch thân hành, làm sạch khẩu hành và意行 (ý hành), ở nơi vô sự, mặc y phấn-tảo, thường hành khất thực, khất thực theo thứ tự, ít muốn biết đủ, vui ở nơi viễn ly mà tu tập tinh tấn, nhiếp lập chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường nên viễn ly. Phải học tập như vậy.

3. Nguyên ngữ Pāḷi (SuttaCentral)Roman IAST

(Chưa có đoạn tương đương Pāḷi được ghi nhận)

4. Việt dịch từ PāḷiTrực chỉ đối ứng

(Đang đối ứng bản dịch Pāḷi)

Hiển thị đoạn 1 – 10 / 48 đoạn (Trang 1 / 5)
Xem:
…