Văn bản trích xuất theo trang
Trang 72
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH HÒA-PHÁ79
không đúng tôi sẽ nói là không đúng. Nếu có điều nào nghi ngờ tôi sẽ hỏi
Cù-đàm: ‘Thưa Cù-đàm, điều này có sự gì? Điều này có nghĩa gì?’ Tùy
theo những điều Sa-môn Cù-đàm nói, tôi tiếp nhận. Vậy, Sa-môn Cù-
đàm hãy cùng tôi bàn luận việc ấy”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Ý Hòa-phá nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo sanh khởi thân hành bất thiện,
là các lậu khiến bức rức, ưu sầu12. Vị ấy sau đó thân hành bất thiện được
diệt trừ, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, tức thời
ngay trong hiện tại liền đạt đến cứu cánh, không còn bị nóng bức, bền
vững không biến đổi,13 tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ,
được biết bởi Thánh tuệ.14
“Nếu thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện, do vô
minh hành mà sanh lậu, nóng bức và ưu sầu15, người ấy sau đó diệt trừ vô
minh hành bất thiện, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ,
ngay trong hiện tại này liền chứng được cứu cánh, không còn nóng bức,
thường trụ không đổi, tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ,
được biết bởi Thánh tuệ. Thế nào, này Hòa-phá, [434c] Tỳ-kheo thủ hộ
thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này ông có thấy vị ấy nhân đó
mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
12 Hán: lậu phiền nhiệt ưu thích 漏煩憂熱憂戚. Pl.: kāyasamārambhapaccayā
uppajjanti āsavā vighātaparilāhā, “do duyên là sự hoạt động của thân mà phát sinh
các lậu, (là những thứ) gây tàn hại, nóng bức”.
13 Hán: thường trụ bất biến常住不變; có thể dịch từ akālikā, (pháp) phi thời
gian, không lệ thuộc thời gian.
14 Pl. (A. ii. 198): sandiṭṭhikā nijarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṃ
veditabbā viññūhi, “(đây là đạo lộ) hiện thực, trừ diệt, phi thời gian, đến mà thấy,
có khả năng dẫn đạo, đượcnhận thứ nội tâm bởi bậc trí. Những từ này thường
mô tả các phẩm tính của Pháp được Phật thuyết, đây chỉ đạo lộ hành trì của Tỳ
kheo. Bản Hán không xác định được các từ này phẩm định hay mô tả cái gì, nên
đoạn văn trở nên khó hiểu.
15 Vô minh hành lậu... 無明行漏,… Pāli: avijjāpaccayā uppajjanti āsavā..., “do
duyên là vô minh mà sinh khởi các lậu...”