Văn bản trích xuất theo trang
Trang 172
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
26. KINH CÙ-NI-SƯ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại thành Vương Xá, trong rừng Trúc Lâm, vườn Ca-
lan-đa.
Bấy giờ Tỳ-kheo Cù-ni-sư1 cũng trú tại thành Vương xá, là người sống
trong rừng2, cười đùa kiêu ngạo, tháo động, không chánh niệm như khỉ
vượn3. Tỳ-kheo Cù-ni-sư vì có chút việc nên đến thành Vương Xá.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất [455a] cùng với chúng Tỳ-kheo sau giờ ăn
trưa, vì có chút việc nên vân tập tại giảng đường. Tỳ-kheo Cù-ni-sư sau
khi đã làm xong việc trong thành Vương Xá, đi đến giảng đường. Tôn giả
Xá-lợi-phất từ đằng xa trong thấy Cù-ni-sư đi đến. Nhân Cù-ni-sư mà
bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Này Chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự4, sống ở nơi vô sự, phải học sự kính
trọng và biết tùy thuận quán sát5. Này Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo vô sự,
sống ở nơi vô sự mà phần nhiều không kính trọng, không biết tùy thuận
quán sát, vị ấy sẽ bị các Tỳ-kheo thường hay chỉ trích, cật vấn: ‘Vị Hiền
giả này sống ở nơi vô sự mà làm gì? Vì sao thế? Vị Hiền giả này sống ở
nơi vô sự nhưng phần nhiều lại không biết kính trọng, không biết tùy
thuận quán sát’. Nếu đến ở trong đại chúng, vị ấy cũng bị các Tỳ-kheo
thường hay chỉ trích, cật vấn. Do đó, này Chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô
sự, sống ở nơi vô sự, nên học kính trọng và biết tùy thuận quán.
“Này Chư Hiền, thầy Tỳ-kheo vô sự, sống ở nơi vô sự, nên học hạnh
1 Cù-ni-sư 瞿 尼 師. Pāli: Gulissāni (Goliyāni).
2 Hán: tại vô sự thất 在無事室. Pāli (M. i. 468): (gulissāni nāma bhikkhu)
āraññiko, (Tỳ-kheo Gulissāni) là người sống trong rừng (Tỳ kheo a-lan-nhã).
Nhưng hán dịch có thẻ từ araññavihārī (= araññaka), vì vihāra có nghĩa là trú xứ,
cũng nghĩa là tinh xá, am thất.
3 Pāli: (āraññiko) padasamācāro, (là ẩn sĩ sống trong rừng, nhưng) là người có
hành vi thô tháo.
4 Vô sự Tỳ-kheo 無事比丘, Tỳ kheo a-lan-nhã sống tại a-lan-nhã (rừng). Pāli:
āraññaka-bhikku.
5 Pāli: āraññkena bhikkhunā saṃghagatena saṅghe viharante sabrahmacārisu
sagāravena bhavitabbaṃ sappatussena, “Tỳ-kheo a-lan-nhã (tu hạnh sống ở rừng),
khi đến sống giữa Tăng, cần phải tôn trọng, cung kính các đồng phạm hạnh.”