Văn bản trích xuất theo trang
Trang 65
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
11. KINH DIÊM DỤ
[433a13] Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm lâm,
vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu con người tạo nghiệp như thế nào, nó lãnh thọ nghiếp ấy như thế1;
như vậy không có sự thực hành phạm hạnh, không thể diệt tận khổ. Nếu
nói như vậy: ‘Nếu con người tạo nghiệp như thế nào, nó lãnh thọ quả báo
của nó như thế 2’; như vậy, có sự tu hành phạm hạnh, có được dự diệt tận
được khổ.
(1.a) “Vì sao như vậy? Giả sử có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ
quả khổ là quả báo của địa ngục3. Thế nào là người tạo nghiệp bất thiện
tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục? Ở đây, nếu có người không
tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất ngắn4;
người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa
1 Hán: thọ kỳ báo受其報. Hán có thể nhầm, vì trùn lặp với khẳngđịnh tiếp theo.
Đấy sửa lai theo bản Pāli. Xem thêm cht. 2 tiếp theo. A. i. 248: yathā yathāyaṃ
puriso kammaṃ karoti tathā tathā taṃ paṭisaṃvediyatī ti etaṃ santaṃ, bhikkhave,
brahmacariyavāso na hoti, okāso na paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya, “Nếu
nói rằng: ‘Con người này tạo tác nghiệp như nào, nó sẽ cảm thọ nghiệp ấy như thế’.
Nếu vậy, này các Tỳ-kheo,... không có đời sống phạm hạnh; không có cơ hội
nêu rõ sự diệt tận khổ một cách chân chánh”.
2 Hán: thọ kỳ báo 受其報. Pl.: tathā tathāssa vipākaṃ paṭisaṃvediyati, cảm thọ dị
thục của nó như thế như thế. Trong bản Hán, nguyên văn lặp lại, xem cht. 1
trên. Nhưng trong bản Pāli: yathā yathā vedanīyaṃ ayaṃ pruriso kammaṃ karoti
tathā tathā tassa vipākaṃ paṭisaṃvediyati, “Con người này tạo tác nghiệp được
cảm thọ như thế như thế, nó sẽ cảm thọ dị thục của nghiệp ấy như thế như
thế...”
3 Bản Pāli: appamattakaṃ pi pāpakammaṃ kataṃ tam enaṃ nirayaṃ upaneti, “chỉ
tạo nghiệp ác dù chỉ chút ít, nhưng nghiệp ấy dẫn đến địa ngục”.
4 Pāli: paritto appātumo (Sớ giải: ātumā vuccati attabhāvo) appadukkhavihārī, “hạn
hẹp, tự ngã nhỏ mọn, sống ít khổ”. Có lẽ bản Hán đọc: appa-āyusmā, có tuổi thọ
thấp, thay vì: appa-ātumā, có tự ngã nhỏn mọn.