Văn bản trích xuất theo trang
Trang 322
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
51. KINH BỔN TẾ
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm Lâm,
vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Không thể biết biên tế tối sơ1 của hữu ái2, rằng trước vốn không có hữu
ái, mà nay sanh ra hữu ái. 3 Nhưng có thể biết được sở nhân của hữu ái.4
“Hữu ái có tập khởi5 chứ không phải không tập khởi. Tập khởi của hữu ái
là gì? Vô minh là tập.
“Vô minh cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của vô minh là gì?
Năm triền cái6 là tập.
“Năm triền cái cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của năm triền
cái là gì? Ba ác hành là tập.
“Ba ác hành cũng có tập chứ không phải không tập. Tập của ba ác hành
là gì? Không thủ hộ các căn là tập.
“Không thủ hộ các căn cũng có tập chứ không phải không tập. Tập
1 Hán: bổn tế 本際. Pāli: purimā koṭi, biên tế tối sơ, giới hạn thời gian về trước
(khởi thủy).
2 Hán: hữu ái 有愛. Pāli: bhavataṇhā, hữu dẫn đến ái đương lai.
3 Pl. (A. v. 116): purimā koṭi na paññāyati bhavataṇhāya – ito pubbe bhavataṇhā
nāhosi atha pacchā samabhavī’ ti, evañcetaṃ vuccati, điểm tối sơ của hữu ái không
thể biết, để nói rằng, “trước đó đã không có hữu ái, sâu này nó mới xuất
hiện.”
4 Pl. ibid. : atha ca pana paññāyati – idaccayā bhavataṇhā, nhưng điều này thì được
biết: do duyên cái này mà có hữu ái.
5 Lưu ý chữ Hán: tập 習 theo nghĩa tập quán hay tập nhân, chứ không phải
tập 集 theo nghĩa tập khởi (tập hợp). Nhưng trong bản hán này, các chữ tâp
thuộc tập đế đều viết là 習 thay vì 集. Vậy, tập ở đây cũng được hiểu làtập khởi,
tức nguyên nhân sanh khởi. Pl.: bhavataṇhāmpāhaṃ sāhāraṃ vādāmi no anāhāraṃ,
“Ta cũng nói hữu ái có thức ăn (= có duyên) chứ không phải không có thức ăn
(= không duyên).”
6 Hán: ngũ cái 五 蓋. Pāli: pañca nīvaraṇā.