Văn bản trích xuất theo trang
Trang 484
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH CHUYỂN LUÂN VƯƠNG527
71. KINH TÌ-TỨ
[525a12] Tôi nghe như vầy.
Một thời Tôn giả Cưu-ma-la Ca-diếp887 trú tại nước Câu-tát-la cùng với đại chúng Tỳ-
kheo, đi đến Tư-hòa-đề888, trú trong rừng Thi-nhiếp-hòa889 về phía Bắc một ngôi làng của
thị trấn này.
Bấy giờ trong ấp Tư-hòa-đề có vua tên là Tì-tứ890, giàu có cùng tột, của cải vô lượng, sản
nghiệp chăn nuôi không thể tính tốn, phòng hộ, thực ấp đầy đủ mọi thứ. Tất cả suối, hồ,
cỏ cây ở ấp Tư-hòa-đề đều thuộc về vua, là phong ấp do vua Ba-tư-nặc, nước Câu-tát-la
cấp cho.
Bấy giờ, các Bà-la-môn, cư sĩ ở Tư-hòa-đề nghe đồn rằng, “Có Sa-môn tên là Cưu-ma-la
Ca-diếp, trú tại nước Câu-tát-la, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến thị trấn Tư-hòa-đề,
trú tại rừng Thi-nhiếp-hòa về phía Bắc một ngôi làng của thị trấn này. Sa-môn Cưu-ma-la
Ca-diếp có danh tiếng lớn lao, mười phương đều nghe. Cưu-ma-la Ca-diếp là bậc biện tài
vô ngại, lời nói vi diệu, là bậc đa văn, là A-la-hán891. Nếu ai yết kiến vị A-la-hán này,
cung kính lễ bái thì được thiện lợi. Chúng ta có thể đi đến yết kiến Sa-môn Cưu-ma-la
Ca-diếp này.”
Nghe thế, các Bà-la-môn, cư sĩ ở Tư-hòa-đề lên hướng Bắc, đến rừng Thi-nhiếp-hòa.
Bấy giờ, vua Tì-tứ ở trên chánh điện, trông thấy từ xa các Bà-la-môn, cư sĩ ở Tư-hòa-đề,
mỗi người cùng với nhóm của mình, theo nhau đi từ Tư-hòa-đề lên hướng Bắc, đến rừng
Thi-nhiếp-hòa. Vua Tì-tứ thấy vậy, hỏi người hầu rằng:
“Hôm nay vì cớ gì các Bà-la-môn, cư sĩ ở Tư-hòa-đề này mỗi người cùng với [525b]
nhóm của mình, theo nhau đi từ Tư-hòa-đề lên hướng Bắc, đến rừng Thi-nhiếp-hòa?
Người hầu thưa rằng:
“Tâu Thiên vương,892 các Bà-la-môn, cư sĩ ở Tư-hòa-đề kia nghe rằng ‘có Sa-môn Cưu-
ma-la Ca-diếp trú tại nước Câu-tát-la cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đến thị trấn Tư-hòa-đề
này, trú tại rừng Thi-nhiếp-hòa, về phía Bắc một ngôi làng của thị trấn này. Tâu Thiên
vương, Sa-môn Cưu-ma-la Ca-diếp có danh tiếng lớn lao, mười phương đều nghe. Ngài
là bậc biện tài vô ngại, lời nói vi diệu, là bậc đa văn, là A-la-hán. Nếu ai yết kiến vị
887 Cưu-ma-la Ca-diếp 鳩摩羅迦葉. No.1 (7): Đồng nữ Ca-diếp 童女迦葉. Pāli: Kumāra-
kassapa, nổi danh xuất sắc về biện luận. Ngài được gọi là Kumāra, Vương tử hay Đồng tử, vì
được vua nuôi, xuất gia mới lên bảy.
888 Tư-hòa-đề 斯惒提. No 1(7): Tư-ba-hê 斯波醯. Pāli: Setavyā, thị trấn của Kosala.
889 Thi-nhiếp-hòa lâm 尸攝惒林; Pāli: Siṃsapavana. Có một khu rừng Siṃsapavana ở Ālavi và
một khu ở Kosambi.
890 Tì-tứ 鞞肆; No.1 (7): Tệ Túc 弊宿. Pāli: Pāyāsi, thị trưởng thị trấn Setavyā. Bản Pāli gọi ông
là rājañño, Sớ giải nói: anabhisittakarājā, không phải là vua Quán đảnh, tức chỉ là người thuộc
vương tộc, hai đại quan, chứ không phải là vua.
891 Bản văn: A-la-ha 阿羅訶: A-la-hán, chỉ chung Thánh nhân.
892 Trong bản hán ông được hiểu là vua. nên tôn xưng là Thiên vương.