Văn bản trích xuất theo trang
Trang 113
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
19. KINH NI-KIỀN
[442c1] Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật sống giữa những người họ Thích1, trong Thiên ấp2.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Các Ni-kiền thấy như vậy, nói như vậy: ‘Những gì mà con người cảm
thọ đều do nhân đã tạo tác từ trước3. Nếu những nghiệp cũ của chúng do
nhân khổ hành mà diệt và không tạo tác cái mới nữa, thì các nghiệp ấy
dứt sạch. Các nghiệp đã dứt sạch thì các khổ được dứt sạch. Các khổ đã
được dứt sạch thì đã đạt đến khổ biên4’.
“Ta liền đến các vị ấy; đến rồi liền hỏi:
“– Này các Ni-kiền, phải chăng các vị thấy như vầy, nói như vầy:
‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo tác từ trước. Nếu
những nghiệp cũ của chúng do nhân khổ hành mà diệt và không tạo tác
cái mới nữa, thì các nghiệp ấy dứt sạch. Các nghiệp đã dứt sạch thì các
khổ được dứt sạch. Các khổ đã được dứt sạch thì đã đạt đến khổ biên?’
“Họ trả lời rằng:
“– Đúng như vậy, Cù-đàm.
“Ta lại hỏi các vị Ni-kiền kia rằng:
“– Các vị tự có tịnh trí hay không, để biết rằng, trước kia ta có hay không
có? Trước kia ta tạo ác hay không tạo ác? Ta chừng ấy khổ đã diệt tận,
hay chừng ấy khổ chưa diệt tận; và nếu chừng ấy đã diệt tận thì sẽ diệt
tận tất cả5? Chính ngay trong đời hiện tại mà đoạn các pháp bất thiện và
1 Thích-ki-sấu 釋羇瘦, xem cht.1, kinh số 12 trên.
2 Thiên ấp 天 邑. Pāli: tụ lạc tên là Devadaha (Thiên tí, cánh tay trời) của người
họ Thích., sinh quán thân mẫu của Đức Thích Tôn; vườn Lâm-tỳ-ni cũng gần
đó.
3 Nhân bổn tác 因本作. Pāli (M. ii. 214): pubbekatahetu, nguyên nhân được làm
đời trước.
4 Pāli, ibid: dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ
bhavisatī ti, “do khổ diệt tận nên thọ diệt tận; do thọ diệt tận nên hết thảy khổ
tuyệt diệt”.
5 Hán: nhược tận dĩ, tiện đắc tận 若盡已便得盡. Pl., ibid.: ettakaṃhi vā dukkhe