Văn bản trích xuất theo trang
Trang 76
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
13. KINH ĐỘ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, ở tại Thắng Lâm lâm trong vườn Cấp
Cô Độc.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
(i) “Có ba độ xứ,1 khác chủng tánh, khác danh xưng, khác tông chỉ, khác
học thuyết, mà dù cho người có trí tuệ khéo nhận lãnh, khéo ghi nhớ2 để
nói cho người khác3, nhưng cũng không thu hoạch được lợi ích4.
“Những gì là ba? Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn thấy như vậy, nói như vậy:
Tất cả hành vi của con người đều nhân túc mạng định sẵn5.
“Lại [435b] có Sa-môn, Bà-la-môn thấy như vậy, nói như vậy: Tất cả
hành vi của con người đều do Đấng Tôn Hựu6 định sẵn.
“Lại có Sa-môn, Bà-la-môn thấy như vậy, nói như vậy: Tất cả hành vi
của con người đều vô nhân, vô duyên7.
(i. ) “Ở trong đây, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào thấy như vầy, nói như
vầy: ‘Tất cả hành vi của con người đều nhân túc mạng định đoạt’, Ta liền
1 Hán: độ xứ 度 處. Pāli: titthāyatana, chỗ vượt qua sông. Tittha cũng chỉ tông
phái hay giáo phái, do đó, titthāyatana cũng chỉ căn cứ hay nền tảng lập thuyết
của các giáo phái.
2 Pāli: paṇḍitehi samanuyuñjiyamānāni samanugāhiyamānāni samanubhāsiyamānāni,
“bị các nhà thông thái nạn vấn, chất vấn, khuyến cáo”.
3 Pāli: paraṃ gantvā, “sau khi đến với người khác”. Tức là, có thể giảng giải lại
cho người khác.
4 Pāli: akiriyāya saṇṭhahanti, “chúng (các học thuyết ấy) không mang lại hữu ích
gì”.
5 Hán: nhất thiết giai nhân túc mạng tạo 一切皆因宿命造, "Tất cả đều do nhân
túc mạng”, nguyên nhân đã định sẵn từ đời trước. Pāli: taṃ sabbaṃ
pubbekatahetū.
6 Hán: Tôn Hựu 尊祐, Thượng đế. Pāli: Issaranimānahetū, nguyên nhân do
Thượng đế biến hóa ra hay sáng tạo.
7 Hán: vô nhân vô duyên 無因無緣, thuyết tự nhiên, không có nguyên nhân và
điều kiện. Pāli: ahetu-appaccayā.