Văn bản trích xuất theo trang
Trang 77
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH ÑỘ 84
đến nơi người kia và hỏi: ‘Này Hiền giả, có thật Hiền giả thấy như vầy,
nói như vầy: Tất cả hành vi của con người đều nhân túc mạng định đoạt
chăng? Người kia trả lời rằng: ‘Thật vậy’. Ta lại nói với người kia rằng:
‘Nếu quả thật như vậy, các Hiền giả đều là những kẻ sát sanh cả. Vì sao
thế? Bởi vì tất cả đều nhân túc mạng định đoạt sẵn8. Cũng vậy, Chư Hiền
là những kẻ trộm cắp, tà dâm, nói láo cho đến tà kiến. Tại sao thế? Bởi vì
tất cả đều nhân túc mạng định đoạt sẵn. Này Chư Hiền, đối với kiến chấp
rằng: Tất cả đều nhân túc mạng định đoạt sẵn, mà cho là như thật, như là
lõi chắc bên trong9, những điều nên hay không nên làm, hồn tồn không
có ý dục, không có phương tiện10. Này Chư Hiền, nếu đối với điều nên
làm và không nên làm mà không biết đúng như thật thì sẽ mất chánh
niệm, không có chánh trí11, thì không có cách nào giáo hóa đúng theo
pháp của Sa-môn được12’. Nói như vậy mới có thể dùng lý để khuất phục
các Sa-môn, Bà-la-môn kia.
(i.2) “Ở đây, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, thấy như vầy, nói như vầy:
‘Tất cả hành vi đều nhân Đấng Thiên Hựu định đoạt’. Ta liền đi đến chỗ
người kia, và hỏi: ‘Này Hiền giả, có thật Hiền giả thấy như vầy, nói như
vầy: Tất cả hành vi của con người đều nhân Thiên Hựu định đoạt chăng?
Người kia trả lời rằng: ‘Thật vậy’. Ta lại nói với người kia rằng: ‘Nếu
quả thật như vậy, các Hiền giả đều là những kẻ sát sanh cả. Vì sao thế?
Bởi vì tất cả đều nhân Thiên Hựu định đoạt sẵn. Cũng vậy, Chư Hiền là
những kẻ trộm cắp, tà dâm, nói láo cho đến tà kiến. Tại sao thế? Bởi vì
tất cả đều nhân Thiên Hựu định đoạt sẵn. Này Chư Hiền, đối với kiến
chấp rằng: Tất cả đều nhân Thiên Hựu định đoạt sẵn, mà cho là như thật,
8 Pāli (A. i. 174): pāṇātipātino bhavissanti pubbekatahetu, “họ sẽ (được coi như) là
những kẻ sát sanh, do hành động đời trước”.
9 Hán: ư nội nhân nội 於 內 因 內. Có lẽ Pāli tương đương: sārato
paccāgacchataṃ, nắm chặt cho là lõi cứng kiên thận, tinh tủy).
10 Hán: vô dục vô phương tiện 無欲無方便. Pāli: na hoti chando vā vāyāmo,
không có ước muốn, không có nỗ lực.
11 Pāli: muṭṭhassatīnaṃ anārakkhānaṃ viharataṃ, sống xao lãng, không giữ gìn
(các căn).
12 Pāli: na hoti paccattaṃ sahadhammiko samaṇavādo, không thể tự gọi mình là Sa-
môn một cách chân chánh.