Văn bản trích xuất theo trang
Trang 203
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
29. KINH ĐẠI CÂU-HI-LA
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại thành Vương Xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy,
đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hi-la1, chào hỏi lẫn nhau, rồi ngồi xuống một
bên.
Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Đại Câu-hi-la như vầy:
“Tôi có điều muốn hỏi, mong ngài nghe cho chăng?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, ngài muốn hỏi điều gì xin cứ hỏi, tôi nghe rồi
sẽ suy nghĩ”.
Tôn giả Xá-lợi-phất [461c] hỏi rằng:
“Này Hiền giả Đại Câu-hi-la, có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó mà
Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại
tịnh2 và thể nhập chánh pháp không?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có vậy, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất. Đó là có Tỳ-kheo biết bất thiện và
biết căn của bất thiện.
“Thế nào là biết bất thiện? Ác hành của thân là bất thiện, ác hành của
khẩu là bất thiện, và ác hành của ý là bất thiện. Đó là biết bất thiện.
“Thế nào là biết bất thiện căn? Tham là căn của bất thiện, nhuế, và si là
căn của bất thiện. Đó là biết căn của bất thiện.
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu có Tỳ-kheo biết bất thiện và biết căn
của bất thiện như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh
kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
1 Đại Câu-hi-la 大拘絺羅. Pāli: Mahākoṭṭhita, hoặc Mahākoṭṭhika.
2 Bất hoại tịnh 不壤淨. Pāli: avecca-pasāda: bất động tín, bất hoại tín, hay chứng
tịnh.