Văn bản trích xuất theo trang
Trang 122
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH NI-KIỀN134
muốn đoạn trừ đối với nguyên nhân của khổ bằng cần hành xả dục, tức
tu tập cần hành xả dục ấy, và sau khi đoạn, sự khổ liền chấm dứt.
“Bấy giờ nếu Tỳ-kheo ấy suy nghĩ như thế này: ‘Tùy theo những gì
được tạo tác, tùy theo những gì được hành mà pháp bất thiện sanh
khởi, pháp thiện bị diệt. Nếu ta tự tinh cần khổ hành34 mà pháp bất
thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sinh khởi, thì ta hãy tự tinh cần khổ hành
ấy35’. Rồi vị ấy tự tinh cần khổ hành. Sau khi đã tinh cần khổ hành,
pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi. Bấy giờ vị ấy không
còn tinh cần khổ hành nữa. Vì sao thế? Này các Tỳ-kheo, những gì
cần phải làm trước đó, nay mục đích đã thành tựu, nếu còn tinh cần
khổ hành, việc ấy không xảy ra.
“Này Tỳ-kheo, cũng như người thợ làm tên, dùng kềm để uốn tên36. Khi
cây tên đã thẳng thì không còn dùng kềm nữa. Vì sao thế? Vì việc phải
làm trước đó nay đã xong rồi, nếu còn dùng kềm nữa, việc ấy không
đúng. Cũng vậy, Tỳ-kheo suy nghĩ như thế này: ‘Tùy theo những gì được
tạo tác, tùy theo những gì được hành mà pháp bất thiện sanh khởi, thiện
pháp bị tiêu diệt. Nếu ta tự tinh cần khổ hành mà pháp bất thiện bị tiêu
diệt, thiện pháp sinh khởi, thì ta hãy tự tinh cần khổ hành ấy’. Rồi vị ấy
tự tinh cần [444b] khổ hành. Sau khi đã tinh cần khổ hành, pháp bất thiện
bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi. Bấy giờ vị ấy không còn tinh cần khổ
hành nữa. Vì sao thế? Này các Tỳ-kheo, những gì cần phải làm trước đó,
nay mục đích đã thành tựu, nếu còn tinh cần khổ hành việc ấy không
đúng.
“Này Tỳ-kheo, cũng như có người thương nhớ, say đắm, trông chờ săn
đón một người nữ kia, nhưng người nữ ấy lại nói chuyện với một người
hành mà ly dục, như vậy khổ ấy đối với vị ấy được diệt tận.
34 Hán: tự đoạn khổ 自斷苦. Pāli: dukkhāya attānaṃ padahato, tập trung tự ngã để
hành trì khổ.
35 Đại ý đoạn này theo Pāli (M.ii. 225): vị Tỳ-kheo trong khi sống với cảm thọ
lạc, nhận thấy pháp thiện suy giảm và bất thiện tăng trưởng, bèn áp dụng sự
thực hành với cảm thọ khổ (tức áp dụng lối khổ tu), khi ấy pháp thiện tăng
trưởng và pháp bất thiện suy giảm.
36 Hán: dụng kiểm (sic) nạo tiễn 用 檢 撓 箭. Pāli: tejanaṃ dvisu alātesu ātāpitaṃ,
hơ nóng cây tên giữa hai ngọn lửa.