Văn bản trích xuất theo trang
Trang 121
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH NI-KIỀN 133
có thể khuất phục được, có thể làm cho cấu uế được, và có thể chế ngự
được?30
“Nếu có Tỳ-kheo xả bỏ thân nghiệp bất thiện để tu thiện nghiệp nơi thân;
xả bỏ khẩu, ý nghiệp bất thiện, tu thiện nghiệp nơi khẩu, ý. Vị đó đối với
sự khổ đời vị lai mà tự biết rằng ta sẽ không có khổ đời vị lai, được sự an
lạc như pháp mà không xả bỏ31. Vị ấy hoặc muốn đoạn trừ đối với
nguyên nhân của khổ do cần hành dục, hoặc muốn nỗ lực đoạn trừ đối
với nguyên nhân của khổ do cần hành xả dục32. Vị ấy nếu muốn nỗ lực
đoạn trừ đối với nguyên nhân của khổ do cần hành dục, vị ấy tu tập cần
hành dục ấy và sau khi đã đoạn, sự khổ liền chấm dứt. 33 Vị ấy nếu
30 M.ii. 223: kathañ saphalo upakkamo hoti, saphalaṃ padhānaṃ? thế nào là sự nỗ
lực có kết quả, và thế nào là sự cần hành có kết quả?
31 Pāli: bhikkhu na heva anaddhabhūtaṃ attānaṃ dukkhena addhabhāveti dhammikaṃ
ca sukhaṃ na pariccajati, tasmiṃ ca sukhe anadhimucchito, Tỳ kheo chưa thể bằng
sự khổ khuất phục tự ngã vốn chưa bị khuất phục, vị ấy không từ bỏ lạc thọ phù
hợp chánh pháp, nhưng cũng không bị buộc chặt vào lạc thọ đó.
32 Hán: Bỉ hoặc dục đoạn khổ nhân hành dục, hoặc dục đoạn khổ nhân hành xả
dục 彼或欲斷苦因行欲或欲斷苦因行捨欲. Dục đoạn hành tức ước vọng đoạn
trừ bất thiện bằng tinh cần trong khổ hành. Dục đoạn này được phát triển trong
tinh tấn, khinh an, niệm, chánh tri, và do tư duy xả. Trong bản Hán này có hai
phương pháp tu tập, hoặc bằng dục đoạn hành thuần tuý, hoặc dục đoạn hành đi
đôi với xả.Giảithích này do suy luận dục ở đây được hiểu là chanda trong bốn
thần túc. Cf. Tập dị 4 (tr. 471c13). Nhưng giải thích vừa nêu hình như không phù
hợp vơi bản kinh Pāli. Trong đó, Hán: đoạn khổ nhân hành dục 斷苦因行欲 có
thể tương đương Pāli: dukkhanidānassa saṃkhāraṃ padahato, tinh cần hành đối
với nguyên nhân của khổ, để chống lại khổ. Cf. Pāli (M.ii. 223): imassa kho me
dukkhanidānassa saṃkhāraṃ padahato saṃkhātappadhānā virāgo hoti; imassa pana
me dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekhaṃ bhāvayato virago hoti, ta đối với
nguyên nhân đau khổ này tinh cần hành; do tinh cần hành mà ly nhiễm; lại nữa,
ta đối với nguyên nhân đau khổ này mà xả (không quan tâm); do tu tập xả mà ly
nhiễm. (Nghĩa là, không cần đến sự tinh cần khổ hạnh nữa; tự đoạn khổ).
33 Hán: 彼若欲斷苦因行欲者即修其行欲已斷者苦便得盡.Cf. Pl.: tassa tassa
dukkhanidānassa saṅkhāraṃ padahato saṅkhārappadhānā vỉāgo hoti – evampissa taṃ
dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ, vị ấy trong khi cần hành để đoạn nguyên nhan khổ, do cần