Văn bản trích xuất theo trang
Trang 318
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH THIỆN PHÁP7
dâm, đoạn trừ nghiệp tà dâm; xa lìa nghiệp nói dối, đoạn trừ nghiệp nói
dối; xa lìa nghiệp uống rượu, đoạn trừ nghiệp uống rượu. Rồi, này A-nan,
giả như người này cúng dường người kia y phục, ăn uống, tọa cụ, thuốc
thang, các vật dụng cho cuộc sống, cho đến trọn đời, chẳng lẽ nào lại
không được đền ơn11.
“Này A-nan, Ta vì nữ nhân mà tuyên bố tám pháp tôn sư12, nữ nhân
không được trái phạm, nữ nhân [606a] phải phụng trì suốt đời.
“A-nan, ví như người thợ đánh cá và đệ tử của người thợ đánh cá đắp đập
ở khoảng nước sâu để giữ nước, không cho chảy ra ngồi; cũng vậy, này
A-nan, nay Ta vì nữ nhân mà tuyên bố tám pháp tôn sư, nữ nhân không
được trái phạm, nữ nhân phải phụng trì suốt đời.
“Tám pháp đó là những gì?
“A-nan, Tỳ-kheo-ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo. A-nan, Ta đã
vì nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ nhất. Nữ nhân không được trái
phạm, nữ nhân phải phụng trì suốt đời.
“A-nan, Tỳ-kheo-ni cứ mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi Tỳ-kheo. A-
nan, Ta đã vì nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ hai. Nữ nhân không
được trái phạm, nữ nhân phải phụng trì suốt đời.
“A-nan, nếu nơi trụ xứ không có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không được thọ hạ
an cư. A-nan, Ta đã vì nữ nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ ba. Nữ nhân
không được trái phạm, nữ nhân phải phụng trì suốt đời.
“A-nan, Tỳ-kheo-ni sau khi thọ hạ an cư phải đối trước hai bộ chúng
thỉnh cầu chỉ rõ về ba sự kiện: thấy, nghe và nghi. A-nan, Ta đã vì nữ
nhân mà tuyên bố pháp tôn sư thứ tư. Nữ nhân không được trái phạm, nữ
nhân phải phụng trì suốt đời.
“A-nan, nếu Tỳ-kheo không cho phép Tỳ-kheo-ni thưa hỏi thì Tỳ-kheo-ni
11 Tứ phần: Phật vẫn chưa chấp thuận, Tôn giả A-nan hỏi về khả năng đắc Thánh
quả của nữ nhân, Phật xác nhận, rồi A-nan nói: “Nếu nữ nhân có thể đắc Thánh
quả, họ cũng có thể xuất gia”. Do đó Phật chấp thuận và thiết lập tám kỉnh
pháp.
12 Bát tôn sư pháp 八尊師法, tức Bát kỉnh pháp. No.60: Bát trọng pháp 八重法.
Pāli: aṭṭha garudhammā. Trong bản Hán, garu: kính trọng; được hiểu là guru: tôn
sư.