Văn bản trích xuất theo trang
Trang 309
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh MẬT HỒN DỤ 887
tư tưởng, và đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai, mà không ái, không
lạc, không đắm trước, không trụ, đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế
sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, nghi sử10, đấu tranh, thù nghịch,
siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện
khác11, đó gọi là biên tế khổ”.
Đức Phật nói như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh
tọa.
Khi ấy các Tỳ-kheo liền suy nghĩ rằng: ‘Này Chư Hiền, nên biết, Đức
Thế Tôn nói nghĩa này một cách vắn tắt, không phân biệt rộng rãi, từ chỗ
ngồi đứng dậy, đi vào tịnh thất tĩnh tọa, ‘Nếu người đối với hý luận nhân
đó mà xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, và đối với pháp hiện tại, quá khứ
và vị lai, mà không ái, không lạc, không đắm trước, không trụ, đó gọi là
tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử,
nghi sử, đấu tranh, thù nghịch, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và
vô lượng pháp ác bất thiện khác, đó gọi là biên tế khổ’.”
Rồi lại suy nghĩ rằng: “Này Chư Hiền, ai có thể phân biệt rộng rãi ý
nghĩa mà Đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy?”
Rồi họ lại suy nghĩ: “Chỉ có Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được Đức
Thế Tôn và các đồng phạm hạnh có trí khen ngợi. Tôn giả Đại Ca-chiên-
diên có thể phân biệt rộng rãi ý nghĩa mà Đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy.
Này Chư Hiền, hãy cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên yêu
cầu ngài nói nghĩa này. Nếu đượï Tôn giả Đại Ca-chiên-diên phân biệt
cho thì chúng ta sẽ khéo léo nhận lãnh rồi ghi nhớ”.
Rồi thì [604a] các Tỳ-kheo đi đến chỗ của Tôn giả Đại Ca-chiên-diên,
duyên mà các hý luận vọng tưởng hiện hành nơi con người, ở đó nếu không có
gì đang hoan hỷ...” Thử dựng lại đoạn Hán thành Pāli để xem có phải Hán và
Pāli khác nhau do sự truyền khẩu hay không: yatonidānaṃ purisaṃ
pabbajjāsaññāparicitaṃ... Sớ giải Pāli: papañcasaññā, là tưởng (saññā) liên hệ với
ái, mạn, kiến (taṇhāmānadiṭṭhipapañca).
10 Các sử ở đây cũng gọi là tùy miên.
11 Liệt kê của Pāli: rāga (tham trước), paṭigha (sân), diṭṭhi (kiến), vicikicchā
(nghi), māna (mạn), bhavarāga (hữu ái), avijjā (vô minh), các tùy miên
(anusayāni) này bị đoạn tận.