Văn bản trích xuất theo trang
Trang 676
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh ÑỆ NHẤT ÑAÉC917
sự đoạn lạc mà nhanh, có sự đoạn khổ mà chậm, có sự đoạn khổ mà
nhanh. Trong đó sự đoạn lạc mà chậm là lạc đưa đến đoạn trừ chậm
chạp38 cho nên nói là lạc kém. 39 * Trong đó, sự đoạn mà lạc nhanh, là lạc
đưa đến đoạn trừ một cách mau chóng. Cho nên đoạn này cũng được nói
là thấp kém.
“Trong đó, sự đoạn mà khổ chậm40 là khổ đưa đến đoạn trừ một cách
chậm chạp, cho nên đoạn này cũng được nói là thấp kém.
“Trong đó, sự đoạn mà khổ nhanh, là khổ đưa đến đoạn trừ một cách
mau chóng. Cho nên đoạn này không phải là sự tiến triển, không được
lưu bố. Cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng không tán thán và phát
triển.
“Sự đoạn41 của ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư Thiên và
Nhân loại cũng tán thán và phát triển.
“Thế nào là sự đoạn của Ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư
Thiên và Nhân loại cũng tán thán, lưu bố? Đó là Thánh đạo tám chi,
chánh kiến cho đến chánh định là tám.
“Ta như vậy42. Nhưng các Sa-môn, Bà-la-môn, hư ngụy, nói láo, bất
thiện, không chân thật, xuyên tạc, và hủy báng Ta rằng, ‘Quả thật có
37 Tập đị, Pháp uuẩn: lạc trì thông hành.
38 Đặc tính của bốn tĩnh lự là hiện pháp lạc trú, và do đây mà tiến đến chứng đắc
bốn Thánh quả, hoặc nhanh hoặc chậm. (Xem giải thích Pháp uẩn 3, No.1537,
tr.465).
39 Từ đây trở xuống dịch theo phần hiệu đính cuối kinh (800c1-14), trong
nguyên văn để bản không có, nhưng đã có giải thích “sự đoạn mà lạc chậm” hay
lạc trì thông hành, thì ba thông hành kia tất nhiên cũng được giải thích. Bản Pāli
chỉ nêu danh số, không có giải thích.
40 Tức khổ trì thông hành theo Tập dị. Giải thích của Pháp uẩn ibid.: coi ngũ uẩn
như là sự lăng nhục, thương tổn, bức thiết như gánh nặng, căn cứ trên đó mà
quán sát nhàm tởm. Như vậy gọi là Khổ (...) thông hành (lược trích).
41 Đoạn, nói là thông hành, hay nói là đạo và đạo tích đều cùng một nghĩa và
cùng một nguồn gốc, cùng tương đương Pāli: paṭipadā.
42 Nên hiểu là: “Ta nói như vậy, giảng dạy như vậy”.