Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm III

Kinh Trung A Hàm III

Tuệ Sỹ dịch và chú · 715 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 675

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

kinh ÑỆ NHẤT ÑAÉC 916 một biến xứ đất, tư duy trên, dưới, các phương là không hai, vô lượng. Tu tập nơi một biến xứ nước, một biến xứ lửa, một biến xứ gió, một biến xứ xanh, một biến xứ vàng, một biến xứ đỏ, một biến xứ trắng, một biến xứ hư không, một biến xứ thức là thứ mười. Tu tập một biến xứ, tư duy trên, dưới, các phương là không hai, vô lượng. Nhưng các chúng sanh có thắng ý nơi biến xứ lạc này cũng lệ thuộc vào sự biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán tưởng như vậy ắt sanh ra nhàm tởm sự ấy. Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện. “Và đây là thuyết thanh tịnh đệ nhất, là sự thi thiết tối đệ nhất, tức là ‘Ta không có, ta không hiện hữu31’ và để chứng đắc điều này mà thiết lập nơi đạo. “Và đây là đệ nhất ngoại y kiến xứ, tối ý kiến xứ32, tức là vượt qua tất cả sắc tưởng, cho đến chứng phi hữu tưởng, phi vô tưởng, thành tựu an trụ33. “Và đây là đệ nhất thú hướng, Niết-bàn ngày trong hiện tại, là thi thiết tối thượng về Niết-bàn ngay trong hiện tại34 tức là sáu xúc xứ35 với sự khởi tập, hoại diệt, vị ngọt, tai hoạn và xuất ly được thấy như thật bằng tuệ. “Lại nữa, có bốn đoạn36. Thế nào là bốn? Có sự đoạn lạc mà chậm37, có 31 Ngã vô, ngã bất hữu , A 10. 29, trường hợp này được gọi là: Ngoại y kiến xứ (bāhirakānaṃ diṭṭhigātaṃ), y xứ của kiến chấp ngoại đạo: no cassaṃ, no ca me siyā, na bhavissāmi, na me bhavissati, “Tôi đã không hiện hữu, có thể không có cái của tôi; tôi sẽ không hiện hữu, sẽ không có cái của tôi.” 32 Đệ nhất ngoại y kiến xứ, tối ý kiến xứ; tối thượng ngoại kiến xứ, hay nói rõ hơn: “Đây là tối thượng đối với quan điểm ngoại đạo” và kiến xứ cao nhất ở đây được coi như là đạt đến hữu ngã. Pl.: etadaggaṃ bāhirakānaṃ diṭṭhigatānaṃ; xem cht. 32 trên. 33 Trong bản Hán này, kiến xứ, hay quan điểm, cao nhất của ngoại đạo là đạt đến bốn vô sắc xứ, khác với Pāli coi bốn vô sắc xứ này là thi thiết thanh tịnh đệ nhất nghĩa. 34 Ư hiện pháp trung, tối thi thiết Niết-bàn . Pāli: aggam paramadiṭṭhadhammanibbānam paññāpentānaṃ. 35 Nguyên Hán: lục cánh lạc xứ . 36 Hán: đoạn : thông hành. Pāli: catasso paṭipadā.