Văn bản trích xuất theo trang
Trang 246
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
169. KINH CÂU-LÂU-SẤU VÔ TRÁNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại Bà-kì-sấu1, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của
Câu-lâu2.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Nay Ta sẽ nói pháp cho các ngươi nghe. Pháp ấy vi diệu ở phần đầu, vi
diệu ở quảng giữa và đoạn cuối cũng vi diệu, có nghĩa, có văn, đầy đủ
thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh, gọi là kinh ‘Phân biệt vô tránh.’ 3 Các
ngươi hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ.”
Bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời, lắng nghe.
Phật dạy:
“Đừng nên mong cầu dục lạc4, là nghiệp vô cùng hèn hạ5, là hành vi của
phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hành, rất [701c] khổ, không
phải Thánh hạnh, không tương ưng với nghĩa6. Xa lìa hai cực đoan này
thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại, tác thành định,
đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Có tán thán và chỉ trích,
có sự không tán thán và không chỉ trích, mà chỉ nói pháp.7 Quyết định
1 Bà-kì-sấu 婆奇瘦; Pāli: Bhaggesu, giữa những người Bhagga.M. 139: Phật trú
ở Sāvatthi.
2 Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu 劍摩瑟曇拘樓都邑, xem kinh số
10.
3 Hán: phân biệt vô tránh 分別無諍經. Pl.: araṇvibhaṅgasutta.
4 Hán: mạc cầu dục lạc 莫求欲樂. Pāli: na kāmasukham anuyuñjeyya, chớ đam mê
khối lục dục tình.
5 Hán: cực hạ tiện nghiệp 極下賤業. Pāli: hīnaṃ gammaṃ, thấp hèn và đê tiện.
Trong bản Hán, gamma (đê tiện) được đọc là kamma: nghiệp.
6 Vô nghĩa tương ưng, Pāli: anatthasamhita, không liên hệ đến mục đích.
7 Pl. (M.iii. 231): ussādanañca jaññā apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā
apasādanañca ñatvā nevussādeyya na apasādeyya dhammameva deseyya. biết tán
thán, biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán, biết chỉ trích; không tán thán, không
chỉ trích mà thuyết pháp.