Văn bản trích xuất theo trang
Trang 64
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
63
TRƯỜNG A HÀM – KINH ĐẠI BẢN
thanh tịnh, chỉ có người trí mới thấu biết chứ kẻ phàm
phu không thể nào hiểu thấu được.113 Bởi vì chúng
sinh có những nhẫn dị biệt, kiến dị biệt, chấp thủ dị
biệt, sở kiến dị biệt. Dựa theo kiến thức dị biệt đó
mỗi người chỉ thích điều mình mong cầu, làm theo tập
quán của mình,114 cho nên chúng không thể thấu hiểu
lý duyên khởi thâm diệu này. 115 Đối với Niết-bàn diệt
tận khát ái lại càng khó hiểu gấp bội phần. Nếu Ta dầu
vì chúng mà nói ra thì chắc chúng không hiểu nổi, còn
trở lại gây phiền nhiễu.’ Suy nghĩ như thế rồi, Ngài im
lặng không muốn thuyết pháp.
“Lúc ấy vị Vua trời Phạm Thiên biết đức Tì-bà-thi
đã nghĩ gì, liền tự nhủ: ‘Thương thay, thế gian này
đang bị sụp đổ! Đức Phật Tì-bà-thi vừa chứng được
pháp thâm diệu như thế mà không muốn nói ra.’ Tức
thì, trong khoảnh khắc, như lực sĩ co duỗi tay, ông từ
113 Hán: tức diệt thanh tịnh 滅清淨 (TNM: tĩnh huyên 靜 喧). Cf. D.i.i
36: adhigato kho myāyaṃ dhammo gambhīro duddaso duranu-
bodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. “Pháp mà
Ta đã chứng đắc này thật là sâu xa, khó thấy, khó giác ngộ, tịch tĩnh, vi
diệu, siêu việt tư duy, thâm áo, chỉ có thể biết được bởi kẻ trí.”
114 Hán: dị kiến, dị nhẫn, dị thọ, dị học. Y bĩ sở kiến, các lạc sở cầu,
các vụ sở tập (…) 異見異忍異受異學依彼所見各樂所求各務所習
(…). Đoạn kinh Pāli tương đương không đồng nhất với bản Hán,
mà Vô Trước và Thế Thân dẫn để chứng minh sự tồn tại của thức
A-lại-da: ālayarāmā kho panāyaṃ pajā ālayaratā ālayasammuditā
ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya
duddasaṃ idaṃ ṭhānaṃ yadidaṃ idappaccayatā paṭiccasamuppādo.
“Chúng sinh này do ham muốn ái dục (= a-lại-da), tham đắm ái dục,
vui thích ái dục… do đó, khó thấy pháp này, đó là y duyên tánh và
duyên khởi pháp.”
115 Pl., sđd.: idappaccayatapaṭiccasamuppāda, y tánh duyên khởi (cái
này có do cái kia có, …)