Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 418

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

417 TRƯỜNG A HÀM – KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG khổ. Trong lúc hiện hữu thọ lạc thì không có thọ khổ, không có thọ không lạc không khổ. Trong khi hiện hữu thọ khổ thì không có thọ lạc, không có thọ không lạc không khổ. Trong lúc hiện hữu thọ không lạc không khổ thì không có thọ lạc, không có thọ khổ. Sở dĩ như vậy, A-nan, là vì do duyên là xúc lạc mà phát sinh thọ lạc. Nếu xúc lạc diệt mất, thì thọ lạc cũng diệt mất. A- nan, do duyên là xúc khổ mà phát sinh cảm thọ khổ. Nếu xúc khổ diệt mất thì thọ khổ cũng diệt mất. Này A-nan, do duyên là xúc không lạc không khổ mà phát sinh thọ không lạc không khổ. Nếu xúc không lạc không khổ diệt mất thì thọ không lạc không khổ cũng diệt mất. A-nan, ví như hai khúc cây cọ lại với nhau thì lửa bật ra; hai khúc cây rời nhau thì lửa không có. Ở đây cũng vậy, nhân bởi duyên là xúc lạc mà thọ lạc phát sinh; nếu xúc lạc diệt thì thọ cũng đồng thời diệt. Nhân bởi duyên là xúc khổ mà thọ khổ phát sinh; nếu xúc khổ diệt thì thọ cũng đồng thời diệt. Nhân bởi duyên là xúc không lạc không khổ mà thọ không lạc không khổ phát sinh; nếu xúc không lạc không khổ diệt thì thọ cũng đồng thời diệt. Này A-nan, ba thọ đó là hữu vi, vô thường, duyên khởi, là pháp phải tận, phải diệt, là pháp hủ hoại, nó chẳng phải sở hữu của ngã; ngã không phải là sở hữu của nó. Hãy chính quán điều đó một cách như thật với chính trí. A-nan, ai thấy có ngã, cho rằng ‘thọ là ngã’, người ấy sai lầm. b. Ngã là thọ thọ, (nhưng) ngã của tôi được (bị) cảm thọ; (4) pháp cảm thọ là tự ngã của tôi. Bốn trường hợp này trả lời câu hỏi: tự ngã được quán sát như thế nào? (kittāvatā attānaṃ samanupassamāno samanupassati).