Văn bản trích xuất theo trang
Trang 467
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
196. KINH CHÂU-NA
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Bạt-kì, thôn Xá-di1.
Bấy giờ sa-di Châu-na2, kiết hạ ở Ba-hòa3. Tại xứ Ba-hòa có một Ni-kiền
tên là Thân Tử4. Nơi đây, vị ấy qua đời. Sau khi qua đời không bao lâu,
các đệ tử Ni-kiền Thân Tử chia rẽ và phá hoại nhau, nói những lời chia rẽ
và phá hoại nhau. Họ tranh đấu, kiện tụng, cột trói nhau, thù nghịch nhau,
tranh luận với nhau rằng, “Ta biết pháp này, ngươi không biết. Ngươi
biết pháp sao bằng chỗ ta biết? Ta nói tề chỉnh, còn ngươi không tề chỉnh.
Ta nói phù hợp, còn ngươi không phù hợp. Điều đáng nói trước, ngươi
nói sau; điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Ta hơn, còn ngươi không
bằng. Ta hỏi việc ngươi, ngươi không thể trả lời được. Ta đã chế phục
ngươi, ngươi còn hỏi nữa. Nếu ngươi động thủ, ta sẽ cột trói ngươi lại.”
Họ kiêu mạn và thách đố lẫn nhau. Ai cũng chỉ mong mình nói hơn, mà
không có người nào để khiển trách. Những người bạch y tại gia, đệ tử của
Ni-kiền Thân Tử, thấy vậy, thảy đều chán nản và lãng xa các đệ tử của
Ni-kiền Thân Tử này. Vì sao vậy? Bởi vì những điều họ nói ấy đều là ác
pháp luật, không phải là pháp xuất yếu, không dẫn đến Chánh giác, cũng
không phải là lời dạy của Đấng Thiện Thệ. Nó là sự băng hoại, không thể
đứng vững, không nơi nương tựa và cậy nhờ. Bởi vì bậc Thầy mà họ tôn
sùng không phải là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Lúc bấy giờ Sa-di Châu-na đã qua ba tháng an cư mùa mưa, sửa vá lại y
áo, rồi mang y cất bát đến thôn Xá-di, rồi qua phía bắc thôn Xá-di, đến
rừng Thi-nhiếp-hòa. Sa-di Châu-na đến chỗ Tôn giả A-nan. Sau khi đến
nơi, [753a] đảnh lễ sát chân Tôn giả A-nan, rồi ngồi qua một bên.
1 Bạt-kì 跋耆, Xá-di 舍彌. No.85: Xa-ma-ca tử tụ lạc 舍摩迦子聚落. M 104:
Sakkesu viharti (...) Sāmagāme, là một ngôi làng của giòng họ Sakya.
2 Sa-di Châu-na 沙 彌 周 那. Pāli: Cunda samaṇuddesa. Được đồng với Mahā-
Cunda em ruột ngài Sāriputta và đắc quả A-na-hàm trong lúc là Sa-di.
3 Ba-hòa 波 和. Pāli: Pāvā, một thị trấn của bộ tộc Malla. Đoạn đường cuối cùng
của Phật, đi từ Pāvā ñến Kusinārā và ngài dừng chân để nghỉ 25 lần trên đoạn
đường ấy.
4 Ni-kiền danh Thân Tử 尼 犍 名 親 子. Pāli: Nigaṇṭha Nāṭaputta.