Văn bản trích xuất theo trang
Trang 462
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH A-THẤP-BỐI697
vô lậu, giải thốt, tuệ giải thốt, ngay trong hiện tại, tự tri, tự giác, tự tác
chứng thành tựu và an trú, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Vì Ta thấy
vị Tỳ-kheo này không phóng dật, có được quả như thế, cho nên Ta nói vị
Tỳ-kheo này thực hành sự không phóng dật.
“Hoặc có Tỳ-kheo không phải câu giải thốt, không phải tuệ giải thốt,
cũng không phải thân chứng, nhưng lại kiến đáo14. Thế nào là Tỳ-kheo có
kiến đáo? Nếu Tỳ-kheo nào có tín tâm quyết định nơi Phật, Pháp, Tăng,
tùy thuộc pháp được nghe, rồi do tuệ mà có tăng thượng quán và tăng
thượng nhẫn15. Như thế, vị Tỳ-kheo này có kiến đáo. Vị Tỳ-kheo này Ta
nói không phóng dật. Vì có quả gì khiến Ta nói vị Tỳ-kheo này hành
không phóng dật? Tỳ-kheo tìm cách chế ngự các căn, học tập các vị thiện
tri thức, sống tùy thuận an trú, các lậu đã tận diệt, được vô lậu, tâm giải
thốt, tuệ giải thốt, ngay trong hiện tại, tự tri tự giác, tự chứng, thành
tựu và an trụ, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Vì Ta thấy vị
Tỳ-kheo này hành không phóng dật có quả như vậy. Cho nên Ta nói vị
Tỳ-kheo này hành không phóng dật.
“Hoặc Tỳ-kheo không phải câu giải thốt, không phải tuệ giải thốt, cũng
không phải thân chứng, cũng không phải kiến đáo, nhưng lại có tín giải
thốt. Thế nào là Tỳ-kheo có tín giải thốt?16 Tỳ-kheo có tín tâm quyết
định nơi Phật, Pháp, Tăng, tùy theo pháp được nghe, rồi do tuệ mà có
quán và nhẫn nhận, không bằng kiến đáo17. Như vậy là vị Tỳ-kheo này có
tín giải thốt. Vị Tỳ-kheo này Ta nói hành không phóng dật. Ta thấy vị
Tỳ-kheo này hành không phóng dật, vì có quả gì, khiến Ta nói vị Tỳ-
kheo này hành không phóng dật? Tỳ-kheo tìm cách chế ngự được các căn,
học tập theo các vị thiện tri thức, sống tùy thuận an trú, các lậu đã diệt
14 Kiến đáo 見到, cũng gọi là kiến chí. Pāli: diṭṭhipatto.
15 Tức là bậc Thánh này căn cứ trên địa vị tùy pháp hành (xem dưới) chứng đắc
đạo loại trí, với sự bén nhạy của tuệ (Tập dị ibid., tr.435c Câu-xá ibid. Pāli:
paññāya vodiṭṭhā honti vocaritā, do tuệ mà quán sát và thấu triệt.
16 Tín giải thốt 信解脫. Pl.: saddhāvimutto.
17 Câu-xá, ibid, căn cứ trên tùy tín hành (xem dưới) mà chứng đắc đạo loại trí,
khả năng của tuệ không bén nhạy nên phải nương vào tín.