Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm III

Kinh Trung A Hàm III

Tuệ Sỹ dịch và chú · 715 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 394

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

KINH THÁNH ÑẠO625 không có chú thuyết, không có nghiệp thiện, ác, không có quản báo của nghiệp thiện, ác, không có đời này đời sau, không có cha, không có mẹ, không có bậc chân nhân ở trên đời đi đến thiện xứ, khéo ra khỏi cõi này, khéo hướng đến cõi kia, tự tri, tự giác, trong đời này hay đời sau mà tự tác chứng, thành tựu an trụ. Như vậy gọi là tà kiến. “Thế nào gọi là chánh kiến?7 Đó là thấy rằng có bố thí, có trai tự, có chú thuyết, có thiện, ác nghiệp, có quả báo của thiện, ác nghiệp, có đời này đời sau, có cha có mẹ, có bậc chân nhân ở trên đời đi đến thiện xứ, khéo ra khỏi cõi này, khéo hướng đến cõi kia, trong đời này hay đời sau tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ. Như vậy gọi là chánh kiến. “Đó gọi rằng thấy tà kiến là tà kiến thì đó là chánh kiến. Thấy chánh kiến là chánh kiến; đó cũng gọi là chánh kiến. Khi biết rõ như thế, liền phải cầu học để đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến. Đó gọi là chánh tinh tấn. Tỳ-kheo suy niệm về sự đoạn trừ nơi tà kiến,8 thành tựu chánh kiến. Đó gọi là chánh niệm. Cả ba chi này đi theo chánh kiến, tùy tùng phương tiện của kiến.9 Vì thế cho nên bảo chánh kiến là đứng ngay ở hàng đầu. “Nếu thấy tà tư duy là tà tư duy, thì đó là chánh tư duy. Nếu thấy chánh tư duy là chánh tư duy thì đó cũng là chánh tư duy. “Thế nào gọi là tà tư duy? Đó là niệm dục, niệm nhuế, niệm [736a] hại, được gọi là tà tư duy. 10 “Thế nào gọi là chánh tư duy? Đó là niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại, được gọi là chánh tư duy. “Thấy rõ tà tư duy là tà tư duy, thì đó là chánh tư duy. Thấy rõ chánh tư 7 M 117: có hai loại chánh kiến: 1. Hữu lậu, dẫn đến phước báo, dị thục hữu dư y (sāsavā puññabhāgiyā upadhivepakkā), tức là có quan điêrm: có bố thí, có nghiệp thiện ác v.v. 2. Thánh đạo vô lậu, xuất thế, thuộc đạo chi (ariyā anāsavā lokuttarā maggaṇgā), đó là tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, v.v. 8 M 117: so sato micchādiṭṭhim pajahati, Tỳ kheo có chánh niệm mà đoạn trừ tà kiến. 9 M 177: ime tayo dhammā sammādiṭṭhiṃ anuparidhāvanti anuparivattanti, ba pháp này tùy hành quanh chánh kiến, vận hành tùy thuận chánh kiến. 10 Pl. kāmasaṅkappo vyāpādasaṇkappo vihiṃsāsaṅkappo: tư duy dục, tư duy sân, tư duy hại; ba bất rthiện tư duy.