Văn bản trích xuất theo trang
Trang 393
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
189. KINH THÁNH ĐẠO
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Câu-lâu-lấu, ở Kiếm Ma-sắt-đàm, [735c]
đô ấp Câu-lâu.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Có một con đường khiến chúng sanh được thanh tịnh, xả bỏ ưu sầu, than
khóc, dứt hết buồn khổ ảo não, chứng được như pháp. Đó là Thánh chánh
định, có cận tập, có trợ bạn và cũng có tư cụ, 1 bao gồm bảy chi.
“Thế nào nói là Thánh chánh định có cận tập, có trợ bạn và có tư cụ
gồm bảy chi? Đó là, chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm. Do bảy chi này mà có tập,
có trợ và có cụ2, khéo hướng đến tâm chuyên nhất3, đó gọi là Thánh
chánh định có tập, có trợ và có cụ. Vì sao vậy? Chánh kiến sanh chánh
tư duy,4 chánh tư duy sanh chánh ngữ, chánh ngữ sanh chánh nghiệp,
chánh nghiệp sanh chánh mạng, chánh mạng sanh chánh tinh tấn, 5
chánh tinh tấn sanh chánh niệm, chánh niệm sanh chánh định. Hiền
Thánh đệ tử với tâm được chánh định như vậy lập tức dứt sạch dâm, nộ,
si. Hiền Thánh đệ tử với chánh tâm giải thốt như thế, lập tức biết như
thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa.’
“Trong các chi ấy, chánh kiến đứng ngay hàng đầu.6 Nếu thấy rõ tà kiến
là tà kiến thì đó gọi là chánh kiến. Nếu thấy rõ chánh kiến là chánh kiến
thì đó cũng gọi là chánh kiến.
“Thế nào là tà kiến? Đó là cho rằng không có bố thí, không có trai tự,
1 Hữu tập hữu trợ 有習有助有具. M . 117 (iii. 71): arriyaṃ sammāsamādhiṃ sa-
upanisaṃ saparrikkhāraṃ, Thánh chánh định cùng với cận duyên, tư cụ.
2 Nhờ bảy chi này làm phương tiện và hỗ trợ cho chánh định.
3 Tâm đắc nhất 心得一 ; trạng thái tập trung vào một điểm. Pāli: cittassa
ekaggatā, tâm nhất cảnh tánh.
4 Nguyên hán: chánh chí 正志.
5 Nguyên Hán: chánh phương tiện 正方便.
6 Pl.: sammādiṭṭhi pubbaṅgamā hoti.