Văn bản trích xuất theo trang
Trang 385
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH thuyết trí 616
theo y bát, không có luyến tiếc, ví như chim nhạn cùng với hai cánh bay
liệng trong không theo hai cánh, tôi cũng như vậy.
“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, rồi lại
thủ hộ các căn, hường niệm tưởng sự khép kín14, niệm tưởng muốn minh
đạt, thủ hộ tâm mà được thành tựu, hằng khởi chánh tri. Khi mắt thấy sắc,
tôi không chấp thủ tướng của sắc, không đắm nhiễm vị15 của sắc. Do
nguyên nhân gì16 mà khi nhãn căn không được thủ hộ thì trong tâm sanh
tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, tôi hướng đến kia mà thủ hộ căn con
mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân; khi ý biết pháp, tôi không chấp thủ
tướng của pháp, không đắm nhiễm vị của pháp. Do nguyên nhân gì mà
khi ý căn không được thủ hộ thì trong tâm sanh tham lam, ưu sầu, ác bất
thiện pháp, tôi hướng đến kia mà thủ hộ ý căn.
“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc,
Thánh thủ hộ các căn, lại biết rõ chân chánh sự ra vào, khéo quán sát
phân biệt sự co, duỗi, cúi, ngước, nghi dung chững chạc, khéo đắp tăng-
già-lê và mang các y bát; đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy
đều biết rõ chân chánh.
“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, và
cũng thành tựu Thánh thủ hộ các căn, chân chánh biết sự ra vào, rồi lại
sống cô độc tại nơi xa vắng, ở trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc
cây, những nơi trống vắng yên tĩnh, sườn non, động đá, đất trống, lùm
cây, hoặc đến trong rừng, hoặc giữa bãi tha ma. Tôi sau khi ở trong rừng
14 Thường niệm bế tắc 常念閉 塞. Có lẽ tương đương Pāli: indriyesu guttadvāro,
canh chứng cửa nơi các căn.
15 Hán: bất vị sắc 不味色. Pl.: mā’ nuvyañjanaggahāhī, chớ nắm bắt tuy tướng
(các chi tiết nhỏ khi nhìn thấy sắc). Pl. anuvyañjana: tùy tướng, tùy hình
hảo;nhưng bản Hán hiểu từ vyañjana là vị để nếm, gia vị hương vị.
16 Vị phẫn tránh cố 謂忿諍故, vì sự phẫn nộ và tranh cãi; Hán dịch có thể nhầm
vì vô nghĩa trong đoạn mach này. Pāli: yatvādhikaraṇam enam cakkhundriyaṃ
asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāsutvā tassa
saṃvarāya paṭipajjhāhi, do nguyên nhân gì mà khi sống với nhãn căn không được
phồng hộ khi ấy tham và ưu cũng các pháp ác bất thiện chảy lọt vào, ngơi hãy tu
tập để ngăn chặn nguyên nhân ấy. Trong bản Hán, adhikaraṇa, nguyên nhân,
được hiểu là sự tranh cãi.