Văn bản trích xuất theo trang
Trang 204
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh phân biệt lục giôùi420
dát cho thật mỏng, rồi lại bỏ vào lò nung, đốt lửa đều đặn và đúng độ,
luyện kỹ cho đến lúc tinh ròng, rất mềm mại và có ánh sáng. Này Tỳ-
kheo, thứ vàng này là do thợ vàng đã đốt lửa đều đặn và đúng độ, luyện
kỹ thật tinh ròng, rất mềm mại và có ánh sáng. Như vậy rồi, tự thợ vàng
ấy làm theo ý mình, như làm dây đính vào tơ lụa để trang sức áo mới,
làm nhẫn tay, vòng tay, xuyến, chuỗi, lưới tóc... Cũng vậy, này Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng: ‘Ta với xả thanh tịnh này nhập không vô biên xứ;
tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó,
buộc chặt vào đó. Ta với xả thanh tịnh này nhập thức vô biên xứ, vô sở
hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ
nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó.’
“Tỳ-kheo ấy lại nghĩ, ‘Ta với xả thanh tịnh này, y vào không vô biên xứ,
như vậy xả ấy thuộc pháp hữu vi. Những gì là pháp hữu vi, thảy là vô
thường. Cái gì là vô thường, cái ấy là khổ. Nếu cái gì là khổ, thì biết đó là
khổ.’ Sau khi biết khổ, vị ấy xả, không còn di chuyển nhập25 không vô
biên xứ nữa.
“‘Ta với xả thanh tịnh này, mà y thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi
tưởng phi phi tưởng xứ, xả ấy thuộc pháp hữu vi. Cái gì là pháp hữu vi,
nó vô thường. Cái gì là vô thường, cái ấy là khổ. Nếu cái gì là khổ, thì
biết đó là khổ.’ Sau khi biết khổ, vị ấy xả, không còn di chuyển nhập
thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ nữa.
“Này Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo [692a] đối với bốn xứ này bằng tuệ mà
quán sát, biết như thật, tâm không tác thành, không di chuyển nhập, bấy
giờ vị ấy không làm gì cả, và cũng không tư niệm gì, nghĩa là những gì
liên hệ dến hữu và phi hữu26. Vị ấy cảm giác về thân tối hậu chấp thọ27
thì biết cảm giác về thân chấp thọ cuối cùng; cảm giác về mạng chấp
25 Hán: bất phụcdi nhập 不復移入. Pl.: na abhisaṅkharoti, không hành trì, không
thể hiện, không tác thành.
26 Hán: bất phục hữu vi diệc vô sở tư, vị hữu cập vô 不復有為亦無所思,
謂有及無. Pāli: so neva taṃ abhisaṃkharoti na abhisaṃcetayati bhavāya vā
vibhavāya vā, vị ấy không hành trì cũng không tư duy về hữu hay phi hữu.
27 Thọ thân tối hậu 受身最後, thân được chấp thọ, hay chấp thủ, cuối cùng. Pāli:
kāyapariyantika.