Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm III

Kinh Trung A Hàm III

Tuệ Sỹ dịch và chú · 715 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 203

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

kinh phaân bieät luïc giôùi 419 xúc, sau khi ưu xúc này diệt, nếu có ưu thọ do ưu xúc sanh, ưu thọ ấy cũng diệt, tĩnh chỉ. Tỳ kheo biết như vậy rồi, trở thành mát lạnh. “Này Tỳ-kheo, nhơn xả xúc sanh ra xả thọ, vị ấy cảm giác xả thọ. Khi cảm giác xả thọ, vị ấy biết mình cảm giác xả thọ. Nếu Tỳ-kheo diệt xả xúc, sau khi xả xúc này diệt, nếu có xả thọ do xả xúc sanh, xả thọ ấy cũng diệt, tĩnh chỉ. Tỳ kheo biết như vậy rồi, trở thành mát lạnh. “Này Tỳ-kheo, nhơn các xúc ấy sanh ra các thọ ấy. Khi các xúc ấy diệt, các thọ ấy cũng diệt. Vị ấy biết rằng, thọ này từ xúc mà có, lấy xúc làm căn bản, do xúc mà tập khởi, từ xúc sanh ra, dần đầu bởi xúc, y cứ nơi xúc mà hiện hành. “Này Tỳ-kheo, cũng như mồi lửa, nhơn cái dùi, sự nỗ lực của người và sức nóng mà lửa phát sanh. Này Tỳ-kheo, khi các loại cây rừng làm dùi cây ấy tách rời nhau, thì lửa mà từ đó phát sanh, sức nóng của lửa và sự chấp thọ của hữu tình, tất cả [691c] đều tắt biến, vắng bặt, im lìm và dùi cây ấy trở nên nguội lạnh. Cũng vậy, này Tỳ-kheo, các xúc ấy thế này hay thế kia, sanh ra các thọ như thế này hay thế khác. Các xúc ấy diệt, các thọ ấy cũng diệt. Như vậy là biết thọ này từ xúc mà có, lấy xúc làm căn bản, do xúc tập khởi, từ xúc sanh ra, dẫn đầu bởi xúc, y cứ nơi xúc mà hiện hành. “Nếu Tỳ-kheo không nhiễm trước ba thọ này, giải thoát khỏi chúng, Tỳ- kheo ấy chỉ còn có xả cực kỳ thanh tịnh. “Này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng, ‘Ta với xả thanh tịnh này nhập vào không vô biên xứ21; tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó.22 Ta với xả thanh tịnh này nhập vào thức vô biên xứ23, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ,24 tu tập tâm như vậy, y nơi đó, an trụ nơi đó, xác lập nơi đó, duyên nơi đó, buộc chặt vào đó.’ “Này Tỳ-kheo, cũng như thợ luyện kim lành nghề, dùng lửa đốt thỏi vàng, 21 Nhập không vô biên xứ 無量空處. Pāli: ākāsānañcāyatanaṃ upasaṃhareyyaṃ. 22 Pl.: ayaṃ upekkha taṃnissitā tadupādānā ciraṃ dīghamaddhānam tiṭṭheyya, được y chỉ trên đó (không vô biên), được chấp thủ trên dó, tồn tại một thời gian dài. 23 Thức vô biên xứ 無量識處,. Pāli: viññāṇaññcāyatanaṃ. 24 Nguyên bản Hán: phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ非有想非無想處.