Văn bản trích xuất theo trang
Trang 137
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh BÀ-LA-BÀ ÑƯƠØNG 350
“Chúng sanh kia học Thiền mà không đắc Thiền, học khổ hạnh mà không
đắc khổ hạnh, học viễn ly mà không đắc viễn ly, học nhất tâm mà không
đắc nhất tâm, học tinh tấn mà không được tinh tấn, liền bỏ chỗ rừng vắng,
trở về thôn ấp, vương thành, làm nhà bốn trụ, sáng tác kinh sách. Các
chúng sanh kia thấy vậy, bèn không bố thí, không cung kính, tôn trọng
nữa và nói như thế này: ‘Chúng sanh này trước kia coi thủ hộ là bệnh, thủ
hộ là ung nhọt, thủ hộ là mũi tên đâm, bèn từ bỏ sự thủ hộ, nương nơi vô
sự, làm nhà lá để ở và học Thiền, nhưng không thể đắc Thiền, học khổ
hạnh mà không đắc khổ hạnh, học viễn ly mà không được viễn ly, học
nhất tâm mà không được nhất tâm, học tinh tấn mà không được tinh tấn
liền bỏ nơi vô sự, trở về thôn ấp, vương thành, làm nhà bốn trụ, tạo lập
kinh sách. Này chư Tôn, người này lại học sự bác văn, không học Thiền
nữa. Bác văn do đó được gọi là bác văn vậy29.
“Này Bà-tư-tra, đó là nhân duyên đầu tiên của dòng Bà-la-môn trong thế
gian. Đó là trí tối sơ kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như
pháp. Như pháp là tôn quý giữa lồi người.
“Bấy giờ, các chúng sanh khác, mỗi người đến mỗi phương mà làm
ruộng; người thì đi về phương này mà làm nghề làm ruộng; người thì đi
về phương kia mà làm nghề làm ruộng. Đó là dòng Phệ-xá.30
“Này Bà-tư-tra, đây là nhân duyên đầu tiên có dòng Phệ-xá trong đời. Đó
là trí tối sơ kỳ cựu, đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp. Như
pháp là tôn quý giữa lồi người.
“Này Bà-tư-tra, khi thế gian khởi lên ba chủng tánh này rồi, thì liền biết
có dòng Sa-môn thứ tư31. Tại sao trong thế gian có ba chủng tánh này rồi
liền biết có dòng Sa-môn thứ tư? Trong dòng tộc Sát-lị có những thiện
29 Pāli, định nghĩa ajjhāyaka, hạng người có học thức: na dān’ ime jhāyantī ti..
ajjhāyaka, “Họ không tu thiền, nên gọi họ là ajjhāyaka”. Theo ngữ nguyên này,
ajjhāyaka (người bác văn) là do động từ jhāyati, tu thiền.
30 D iii. 95: methunaṃ dhammaṃ samādāya visukammante payojentīti kho, vāseṭṭha,
‘vessā, vessā’, “sau khi thọ trì pháp dâm dục, chúng theo đuổi nhiều loại chức
nghiệp, cho nên chúng được gọi là vessā.” Ngữ nguyên của từ vessā, giai cấp
thứ ba, được giải thích là do từ “visu(ṃ): mỗi mỗi riêng biêt” trong từ
visukammanta: nhiều chức nghiệp khác nhau.
31 Trong bản Pāli, giai cấp thứ tư là suddā (Thủ-đà-la).