Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 809

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

808 TUỆ SỸ lộ ra, làm cho khổ não; chỉ có Long vương A-nậu- đạt không có hoạn nạn như thế. Ba là tồn thể Long vương ở Diêm-phù-đề, khi ở trong cung vui chơi đều bị chim lớn Cánh vàng bay vào cung dắt đi, hoặc mới nghĩ cách muốn bắt rồng để ăn thịt; các rồng sợ hãi, thường ôm lòng lo sầu; chỉ có Long vương A-nậu-đạt không bị hoạn này; nếu chim Cánh vàng khởi niệm muốn ở thì liền mạng chung, cho nên gọi là A-nậu- đạt.” Phật bảo Tỳ-kheo: “Bên phải núi Tuyết có thành tên là Tì-xá-li,121 phía Bắc của thành ấy có bảy núi Đen. 122 phía Bắc của bảy núi Đen có núi Hương,123 núi ấy thường có tiếng âm nhạc, ca xướng, kỹ nhạc. Núi có hai hang,124 một hang tên là Họa 125 hang thứ hai tên là Thiện Họa, 126 do bảy báu trời tạo thành, mềm mại thơm sạch, giống như áo trời. Diệu Âm Càn-thát-bà127 vương cùng năm trăm Càn-thát-bà ở trong hang Trú đó. Phía Bắc hang Thiện Trú có Thọ vương lớn ta-la, tên là Thiện Trụ, 128 có bốn 121 Tỳ-xa-li 毗 舍 離; Skt. Vaiśāli, Pl.: Vesāli. 122 Hắc sơn 黑 山. Skt. Kīṭādri, núi con kiến; Chân Đế: Nghị sơn 蟻 山. 123 Hương sơn 香山; Câu-xá: Hương Túy sơn 香醉山. Skt. Gandhamādana. 124 Truyền thuyết Pl., trong núi Gandhamādana có ba hang: Suvaṭṭa- gūha (hang vàng), Maṭi-gūha (hang ngọc), Rajata-gūha (hang bạc). 125 Để bản: Trú 晝 (hang Ban ngày), nhưng T 25: Tạp sắc 雜色 (Skt. Citra?), vậy nên sửa lại là Họa. 126 Để bản: Thiện Trú 善 晝. T 25: Thiện tạp sắc 善雜色. Skt. Sucitra? 127 Diệu Âm Càn-thát-bà vương 妙 音 乾 闥 婆 王, thủ lãnh thần âm nhạc. 128 Thiện trụ ta-la thọ vương 善 住 娑 羅 樹 王.