Văn bản trích xuất theo trang
Trang 806
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
805
TRƯỜNG A HÀM – KINH THẾ KÝ
ao hoa bát-đầu-ma, ao hoa câu-vật-đầu, ao hoa phân-
đà-lị; rắn độc 105 đầy trong đó. Mỗi ao ngang dọc năm
mươi do-tuần.
“Qua khỏi đó, đất trống. Trong khoảng đất trống ấy
có biển lớn tên là Uất-thiền-na.106 Dưới biển nầy có
con đường của Chuyển luân thánh vương, rộng mười
hai do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường, bảy
lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây. Các trang
hồng chung quanh đều do bảy báu tạo thành. Khi
Chuyển luân thánh vương ra đời trên cõi Diêm-phù đề
thì nước tự nhiên rút đi, đường ấy hiện ra.
“Cách biển không xa, có núi tên là Uất-thiền. Núi ấy
xinh đẹp, cây cối um tùm, hoa trái xum xuê, các mùi
thơm phức, và đủ các loại cầm thú.
“Cách núi Uất-thiền không xa có núi tên là [116c]
Kim bích.107 Trong núi có tám vạn cái hang. Tám vạn
tượng vương sống ở trong hang ấy. Thân chúng thuần
trắng; đầu có nhiều màu; miệng có sáu ngà, giữa các
răng có trám vàng.
“Qua khỏi núi Kim Bích rồi, có núi tên là Tuyết Sơn,108
ngang dọc năm trăm do-tuần, sâu năm trăm do-tuần,
phía Đông và Tây nhập vào biển. Ở giữa núi Tuyết có
núi Báu, cao hai mươi do-tuần.
“Doi đất núi Tuyết trồi lên một trăm do-tuần, trên đỉnh
105 Độc xà 毒蛇, tên một loại hoa?
106 Uất-thiền-na 鬱 禪 那. Phiên Phạn ngữ: dịch là đại thắng大勝.
Skt. Ujjayanī, Ujjanaka?
107 Kim Bích 金 壁. T 25: Kim Hiếp金脇.
108 Tuyết Sơn 雪 山; Skt. Himavat, Pl.: Himavā hay Himavanta, tức
Himalaya.