Văn bản trích xuất theo trang
Trang 776
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
775
29. KINH LỘ GIÀ
[112c21] Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở Câu-tát-la, cùng với đại chúng Tỳ-
kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, du hành nhân
gian, đi đến thôn Bà-la-môn Sa-la-bà-đề,1 dừng nghỉ
ở phía Bắc khu rừng Thi-xá-bà.2
I. THAM ÁC THUYẾT PHÁP
1. Bà-la-môn Lộ-già
Khi ấy, có Bà-la-môn tên là Lộ-già3 trú ở trong rừng
Sa-la.4 Thôn ấy giàu có, an vui, nhân dân đông đúc.
Vua Ba-tư-nặc phong thôn nầy cho Bà-la-môn để làm
phạm phần. Vị Bà-la-môn này, bảy đời cha mẹ trở
lại đây chân chính, không bị người khác khinh chê,
phúng tụng thông suốt ba bộ dị điển, có khả năng phân
biệt hết các loại kinh sách, lại giỏi về tướng pháp đại
nhân bói xem kiết hung, nghi lễ tế tự, nghe Sa-môn
Cù-đàm là con dòng họ Thích xuất gia [113a] thành
đạo đang ở nước Câu-tát-la, du hành nhân gian, đến
lại rừng Thi-xá-bà, có đại danh xưng lưu truyền thiên
hạ, là Như Lai, Chí chân, Đẳng Chính Giác,... đầy
đủ mười hiệu, ở trong chúng chư Thiên, người đời,
* 佛說長阿含第三分露遮經第十
1 Để bản Bà-la-bầ-đè 婆羅婆提. Theo âm Pāli tương đương, sửa lại
là Sa-la-bà-đề. Pl.: Sālavatika
2 Xem T 1(23) kinh Cứu-la-đàn-đầu.
3 Lộ-già 露 遮, Pl.: Lohicca.
4 Để bản Bà-la 婆羅林. Sửa lại, đọc là Sa-la. Vì làng Sa-la-bà-đề
(Pl. Sālavatika) được nói là có cây sa-la bao quanh, theo sớ giải
Pāli, so kira vuya samanantato sālapantuyā parikkhito.