Văn bản trích xuất theo trang
Trang 625
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
624
TUỆ SỸ
tưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy
không hơn?
1.“Có các Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như
vầy, có quan điểm như vầy: ‘Ta, sau đời này,47 sinh
có tưởng có sắc.48 Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là
trường hợp thứ nhất, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó,
y mạt kiếp mạt kiến, sinh hữu tưởng luận, nói thế gian
có tưởng, thuộc trong mười sáu luận chấp, chừng ấy
không hơn.
2.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không sắc, có
tưởng. Đây là thật, ngồi ra là dối.’
3.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có sắc vừa
không sắc, có tưởng. Đây là thật, ngồi ra là dối.’
4.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải
có sắc không phải không sắc, có tưởng. Đây là thật,
ngồi ra là dối.’
5.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh có biên, 49 có
tưởng. Đây là thật, ngồi ra là dối.’
6.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không biên, có
tưởng. Đây là thật, ngồi ra là dối.’
7.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh vừa có biên vừa
không biên, có tưởng. Đây là thật, ngồi ra là dối.’
8.“Có người nói: ‘Ta, sau đời này, sinh không phải có
47 Hán: thử chung hậu 此終後, sau khi chung cuộc, tức sau khi chết.
Pl.: paraṃ maraṇā.
48 Pl., định cú: rūpī attā hoti arogo paraṃ maraṇā saññī, sau khi
chết, tự ngã không bệnh, có sắc, có tưởng.
49 Hán: hữu biên hữu tưởng 有邊有想. Pl.: antavā hoti... saññī, ngã
là hữu biên (hữu hạn).