Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 618

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

617 TRƯỜNG A HÀM – KINH PHẠM VÕNG rằng thế gian có biên tế. Vì vậy biết rằng thế gian là hữu biên. Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ nhất, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thế giới hữu biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn. 2.“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy quán sát thế gian [91b] và khởi lên vô biên tưởng, nói rằng: ‘Thế gian là vô biên. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tâm định tĩnh, quán sát thấy rằng thế gian không có biên tế. Vì vậy biết rằng thế gian là hữu biên. Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ hai, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thế giới vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn. 3.“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định tĩnh, vị ấy quán sát thế gian, thấy rằng phương trên có biên, bốn phương không có biên,42 vị ấy nói rằng: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tâm định tĩnh, quán sát thấy phương trên có biên còn bốn phương không có biên. Vì vậy biết rằng thế gian vừa hữu biên vừa vô 42 D.i.. ibid.: uddhamaddho antasaññī lokasmiṃ viharati, tiriyaṃ anantasaññī, vị ấy sống trong thế gian với ý tưởng phía trên và phía dưới hữu biên; chiều ngang vô biên.