Văn bản trích xuất theo trang
Trang 612
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
611
TRƯỜNG A HÀM – KINH PHẠM VÕNG
bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
4.“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệ
nhạy bén, có năng lực quán sát khéo, và bằng trí tuệ
nhạy bén ấy, phương tiện quán sát, nghĩa là suy xét
kỹ, rồi bằng những điều mà mình đã thấy, và bằng tài
biện thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thế
gian thường tồn.’ Đó là quan điểm thứ tư. Sa-môn,
Bà-la-môn nhân đó đối với bản kiếp bản kiến chủ
trương ‘bản ngã và thế gian thường tồn’, thuộc trong
bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này 26
được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy, và cũng
biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt
qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng không chấp trước.
Do không chấp trước nên được tịch diệt.27 Biết sự tập
khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự
xuất yếu của thọ, bằng chính quán mà được vô dư giải
thốt, vì vậy được gọi là Như Lai.
“Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại
pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thể
tán thán Như Lai một cách chân thật, bình đẳng.28
b. Bán thường trú luận
“Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa
vi diệu, để cho đệ tử Hiền Thánh có thể tán thán Như
26 Hán: kiến xứ 見處; Pl.: diṭṭhiṭṭhānā.
27 Pl.: aparāmasato c’ assa paccattaṃ yeva nibbuti viditā, do không
thủ trước nên nội tâm tịch tĩnh.
28 Pl.: yathābhuccaṃ… sammā.