Văn bản trích xuất theo trang
Trang 611
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
610
TUỆ SỸ
2.“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương
tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định
tĩnh, vị ấy nhớ lại bốn mươi thành kiếp và hoại kiếp.
Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường
tồn. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vô
số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với
tâm định tĩnh, tôi nhớ lại bốn mươi thành kiếp và hoại
kiếp. Trong đó, chúng sinh không tăng, không giảm,
thường tụ, không tán. Tôi vì thế mà biết, ‘bản ngã và
thế gian thường tồn.’ Đó là trường hợp điểm thứ hai.
Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến chủ
trương bản ngã và thế giới thường tồn, thuộc trong
bốn trường hợp, chừng ấy không hơn.
3.“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương
tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với tâm định
tĩnh, vị ấy nhớ lại tám mươi thành kiếp và hoại kiếp. 25
Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường
tồn. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vô
số phương tiện tinh cần mà chứng nhập tâm định. Với
tâm định tĩnh, tôi nhớ lại tám mươi thành kiếp và hoại
kiếp. Trong đó, chúng sinh không tăng, không giảm,
thường tụ, không tán. Tôi [90b] vì thế mà biết, ‘bản
ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là quan điểm thứ ba.
Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bản kiếp bản kiến chủ
trương bản ngã và thế giới thường trú, thuộc trong
25 Trong bản Pl., ba trình độ nhớ thành ba quan điểm thường tồn: 1.
Nhớ từ một đời cho đến trăm nghìn đời. 2. Nhớ từ một cho đến
mười thành kiếp hoại kiếp. 3. Nhớ cho đến bốn mươi thành kiếp
hoại kiếp.