Văn bản trích xuất theo trang
Trang 424
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
423
TRƯỜNG A HÀM – KINH ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG
3. Tám giải thốt
“A-nan, lại có tám giải thốt. 37 Những gì là tám? Có
sắc, quán sắc; giải thốt thứ nhất. Bên trong không có
sắc tưởng, quán ngoại sắc; giải thốt thứ hai. Tịnh giải
thốt; giải thốt thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối
tưởng, không niệm tạp tưởng, an trú không vô biên
xứ; giải thốt thứ tư. Vượt không vô biên xứ, an trú
thức vô biên xứ xứ; giải thốt thứ năm. Vượt thức vô
biên xứ, an trú vô sở hữu xứ; giải thốt thứ sáu. Vượt
vô sở hữu xứ, an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ; giải
thốt thứ bảy. Diệt tận định, giải thốt thứ tám. A-nan,
các Tỳ-kheo an trú trong tám giải thốt này theo chiều
thuận và nghịch, xuất nhập tự tại; Tỳ-kheo như vậy
chứng đắc câu giải thốt.”
Bấy giờ, A-nan sau khi nghe những điều Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.38
37 Xem các kinh, số 9 “Chúng tập”, số 10 “Thập thượng.”
38 Câu giải thốt, hay câu phần giải thốt 俱分解脫 (Pl.:
ubhatobhāga-vimutti), chỉ vị A-la-hán chứng đắc diệt tận định,
với hai phần giải thốt là tâm giải thốt (Pl.: citta-vimutti) và tuệ
giải thốt (paññā-vimutti).