Văn bản trích xuất theo trang
Trang 311
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
310
TUỆ SỸ
tên Ni-câu-đà cùng năm trăm đệ tử đang tụ tập một
chỗ, lớn tiếng bàn luận, suốt ngày chỉ nói những điều
phù phiếm, chướng ngại đạo. Hoặc luận bàn quốc sự.
Hoặc bàn việc đao binh chiến tranh. Hoặc bàn [47b]
việc quốc gia hòa nghĩa. Hoặc bàn việc đại thần, việc
thứ dân. Hoặc bàn chuyện xe ngựa, công viên, rừng.
Hoặc bàn chuyện chiếu giường, y phục, ăn uống, phụ
nữ. Hoặc bàn việc núi, biển, rùa, trạnh. Nghĩa là họ
chỉ bàn những điều chướng ngại đạo như thế cho hết
ngày.6
Khi Phạm-chí kia vừa trông thấy Cư sỹ Tán-đà-na từ
xa đi lại, liền ra lệnh cho chúng của ông: “Các người
hãy tĩnh lặng. Vì sao vậy? Có đệ tử của Sa-môn Cù-
đàm đang từ ngồi đến. Trong hàng đệ tử bạch y
của Sa-môn Cù-đàm, ông đó thuộc vào hạng trưởng
thượng. Ông ấy chắc đi đến đây. Các ngươi hãy tĩnh
lặng.” Các Phạm-chí đều giữ im lặng.
Cư sỹ Tán-đà-na đi đến chỗ Phạm-chí, chào hỏi xong,
ngồi một bên và nói với Phạm-chí:
“Thầy tôi, đức Thế Tôn, thường ưa nhàn tĩnh, chẳng
ưa huyên náo. Không như các ông và đệ tử các ông ưa
ở giữa đám đông cao tiếng luận đàm. Nhưng chỉ tồn
những lời chướng ngại đạo, vô ích.”
2. Phạm chí Ni-câu-đà
Phạm-chí Ni-câu-đà 尼俱陀. Từ Phạm-chí ở đây là phiên âm của
Pāli tương đương paribbājaka: ngoại đạo xuất gia. Nơi khác, từ
Phạm-chí chỉ người Bà-la-môn. T. 11: Phạm-chí Ni-câu-đà 尼拘
陀梵志. T 26(104): một người dị học tên Vô Nhuế 異學無恚. Pl.:
Nigrodho pabbājako. Hán đọc là Nikrodha.
6 Bàn về các đề tài mà Pāli gọi là tiracchāna-kāthā: súc sinh luận.