Văn bản trích xuất theo trang
Trang 260
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
259
TRƯỜNG A HÀM – KINH TIỄU DUYÊN
nhàn tịnh tọa thiền tư duy, mà chỉ ưa vào nhân gian
chuyên nghề tụng đọc, và tự nói: ‘Ta là người không
tọa thiền.’ Người đời nhân đó gọi là ‘Bất thiền Bà-la-
môn’25 và cũng vì hay đi vào nhân gian nên lại có tên
là ‘Nhân gian Bà-la-môn.’ 26 Bắt đầu từ đó trong thế
gian có dòng Bà-la-môn hiện ra.
“Lại trong đám chúng sinh kia, có người ưa kinh do-
anh sự nghiệp, 27 chất chứa tài bảo, nhân đó người ta
kêu hạng này là hạng Cư sỹ. 28 Trong đám chúng sinh
kia có người có nhiều cơ xảo, làm được nhiều thứ
kiến tạo, nên thế gian mới có thêm một hạng nữa gọi
là công xảo Thủ-đà-la.29
25 Bất thiền bà-la-môn 不禪婆羅門. D 27 ibid.: na dānime jhāyantīti
kho, vāseṭṭha, ‘ajjhāyakā ajjhāyakā’, “những người tụng đọc, vì
những người này không thiền tứ.” Từ nguyên của ajjhāyaka (Skt;
ādhyāyika: ādhy-āya: √i: tụng đọc) chỉ Bà-la-môn thông hiểu kinh
văn Vệ đà. Ở đây nó được coi có gốc động từ jhāyati (Skt. √dhyai:
dhyāyati): thiền tịnh hay tư duy: a-jjhāyaka: người không thiền tứ
= người tụng đọc. T 10: : “Những người ấy không còn được gọi là
những kẻ tu thiền, mà được gọi là giáo thọ giả 教授者.”
26 Nhân gian bà-la-môn 人間婆羅門. Pāli: jana-brāhmaṇa?
27 Doanh cư nghiệp 營居業.
28 T 26(154): “Vì mỗi người đi về các phương khác nhau để làm ruộng,
nên gọi là ‘Tì-xá’.” D 27 ibid.: methunaṃ dhammaṃ samādāya visu-
kammante payojentīti kho, vāseṭṭha, ‘vessā, vessā’, “sau khi thọ trì pháp
dâm dục, chúng theo đuổi nhiều loại chức nghiệp, cho nên chúng được
gọi là vessā.” Ngữ nguyên của từ vessā, giai cấp thứ ba, được giải thích
là do từ “visu(ṃ): mỗi mỗi riêng biệt” trong từ visukammanta: nhiều
chức nghiệp khác nhau.
29 Thủ-đà-la công xảo 首陀羅工巧. D 27 ibid.: luddācārā
khuddācārāti kho, vāseṭṭha,‘suddā, suddā’, “Những người hành
nghề hung ác (nghề săn bắt), hành nghề vụn vặt, chúng được gọi
là sudda.”